BINH LUAN

Dùng xăng sinh học lại tăng thuế môi trường là “không nhất quán”?

“Các cơ quan chức năng đang khuyến khích mọi người dùng xăng E5 vì thân thiện với môi trường. Trong khi đó, anh lại tăng thuế bảo vệ môi trường của xăng dầu lên. Hai điều này là không nhất quán”, PGS.TS Phạm Tất Thắng nói.

Huynh đệ chi binh: “CÂU CHUYỆN VỀ CHÚ GRAB ĐÁNG KÍNH!

“Chú xin lỗi cháu rồi nói bạn chú sắp chết , nó gọi điện suốt. Bạn thân từ hồi còn đi lính cho chế độ cũ, nên có chết thì cũng người trước người sau, chú bí mật chia nửa thuốc gửi bạn uống cầm cự, chứ xạ trị đã hơn 500 triệu sắp bán nhà”.

VIẾT CHO NHỮNG NGƯỜI VÔ CẢM Và,ĐỪNG SỐNG CHỈ ĐỂ CHO CUỘC ĐỜI LÃNG QUÊN

Những con người của thế hệ trẻ, chẳng màng gì đến sự vận động của xã hội, của đất nước. Chúng chấp nhận thừa hưởng sự an lạc trong bổn phận chật hẹp đã được sắp đặt của đời mình. Họ không tìm kiếm hay khai phá điều gì, ngay cả việc dám nói lên sự thật của cuộc sống hỗn mang ngoài kia.

Lấy sai sửa sai

Để cho trộm cướp trở thành “đặc sản” đến nỗi người dân phải tổ chức thành các nhóm “hiệp sĩ” tự bảo vệ lẫn nhau thì tính chính danh của bộ máy Nhà nước ở đâu?

Công an phường 10, quận 3 có bị còng tay đưa ra toà?

Và trong vụ 2 hiệp sĩ đường phố cùng 1 người dân bị hy sinh trong vụ ngăn chặn nhóm cướp xe máy. Những tên công an phường 10, quận 3, Thành Hồ, sau khi được người dân tới kêu báo. Thay vì chúng tới ngăn chặn thì lại làm ngơ cho rằng không phải địa bàn của mình?! Dân trả thuế cho công an bắt tội phạm hay để công an cho rằng địa bàn phường to hơn tính mạng con người?

MỘT BẢN ÁN HOẢ MÙ

“Con người mới XHCN” đang là con người bị dị tật bẫm sinh ngay từ khi còn nằm trong cái bào thai cộng sản!

Vụ dự án Thủ Thiêm: Vì sao chính quyền giải toả dân dễ dàng như vậy?

Nếu so sánh vụ án đất đai của người dân Đồng Tâm, thì chắc chắn vụ án Thủ Thiêm sẽ lớn hơn về mặt quy mô, số lượng và mức độ nghiêm trọng. Thế nhưng, vì sao tổ chức liên minh lại khá thuận lợi trong việc lấy đất của dân như vậy (so với vụ án đất đai khác)?

Vụ án Thủ Thiêm: Dân là cái gì?

22 năm im re, vậy tại sao bây giờ lại được khuấy động đến vậy? Tại sao các báo chí quan tâm đến vậy? Tại sao bây giờ dân mới được tiếp xúc cử tri?...
Vâng, nếu không có cuộc thanh trừng phe phái, nếu không có nợ công vượt trần thì có thêm 220 năm nữa, Thủ Thiêm cũng vậy thôi.

LÀM GÌ CŨNG BẠI

Xóa đói giảm ghèo là bước đầu tiên trong phát triển kinh tế của một đất nước có xuất phát điểm là nghèo đói. Ấy vậy mà tôi đã đi được 40 năm cuộc đời vẫn nghe chính quyền CS lải nhải câu này. Nghĩa là tầng lớp thấp của Việt Nam vẫn đói nghèo mãi. Trong khi đó Hàn Quốc chỉ cần 20 từ đất nước đói nghèo tiến lên quốc gia công nghiệp phát triển. Rõ ràng đó là một thất bại.

Mục đích phát triển kinh tế là gì? Nói cho cùng, mục đích của nó là nâng cao đời sống của người dân. Bằng cách nào? Bằng cách hoạch định chính sách, đề ra những bước đi cụ thể của chính phủ. Mục đích cần phải đạt được là nâng cao mức sống của tầng lớp thấp và tối ưu hóa sức mạnh các doanh nghiệp nội địa. Từ đó đất nước đi lên một cách vững chắc.

Sự vững mạnh của một nền kinh tế trước hết là ở việc thiết lập một thể chế chính trị. Như những món hàng trưng bày tại các hội chợ máy móc thiết bị, máy lọc nước thì sản phẩm của nó là nước sạch, máy phun thuốc trừ sâu thì sản phẩm khi ra ngoài là nước phun có thuốc độc. Các loại thể chế chính trị đã được trưng bày cho chúng ta thấy; tự do dân chủ thì bộ máy nhà nước trong sạch, độc tài CS thì bộ máy tham nhũng. Tham nhũng sẽ làm mọi chính sách trở nên thất bại. Chỉ có bộ máy nhà nước trong sạch mới đưa đến thành công cho những chính sách phát triển kinh tế.

Làm thế nào để tối ưu hóa sức mạnh doanh nghiệp? Đó là hạ tầng pháp lí tốt như luật pháp nghiêm minh, luật pháp chặc chẽ, thủ tục nhanh gọn. Tiếp theo là những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Những đòi hỏi như thế là quá tầm với chính quyền CS. Chính vì thế mà doanh nghiệp nội yếu kém không thể gánh vác nổi trọng trách đưa đất nước tiến bộ. Từ 1986 đến nay ngân sách chính phủ không những không thoát khỏi phụ thuộc vào FDI mà ngày càng phụ thuộc vào nó. Chỉ số tăng trưởng GDP thì chỉ biết cậy Samsung và Formosa. Vấn đề tối ưu hóa sức mạnh doanh nghiệp nội địa xem như CS bất lực.

Vấn đề nâng cao đời sống tầng lớp thấp cũng vậy. Chính quyền này không thể làm được, và mãi mãi họ không làm được nên đừng kì vọng. Vì sao? Như ta biết, để nâng cao đời sống dân nghèo thường có nhiều cách, như tôi chỉ muốn nói đến 2 cách quan trọng nhất. Đó là vấn đề đầu tư phúc lợi và thứ nhì là chính sách quy hoạch vùng của chính quyền.

Thứ nhất, việc thu thuế nhân dân phải đi kèm đầu tư dịch vụ công để mang lại phúc lợi cho dân như y tế miễn phí, giáo dục miễn phí, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp nhà ở vvv... Điều này xem như nhà nước chìa vai vào gánh đỡ bớt gánh nặng cho người nghèo. Ở Việt Nam, phúc lợi đang ở con số zero tròn tròn trĩnh. Người dân đóng thuế đóng rất nặng để chui vào túi quan chức.

Thứ nhì là quy hoạch vùng. Đây là một bài toán phối hợp giữa chính quyền trung ương và chính quyền thành thị để đạt được hiệu quả phát triển kinh tế. Nếu thành công, nó nâng cao đời sống tầng lớp thấp rất hiệu quả.

Nếu chính phủ quy hoạch nông nghiệp cho nông thôn hiệu quả, thì chính nông thôn sẽ giữ chân nông dân để họ không phải tiến về đô thị tạo gánh nặng cho đô thị. Ở Úc, tính ra mỗi người nông dân có thể nuôi được 195 người. Lợi tức bình quân tính trên đầu người của ngành nông nghiệp Úc cao hơn lợi tức bình quân của cả nước. Như vậy là họ đã giữ chân người nông dân không phải ồ ạt kéo về thành thị. Chính sách nông nghiệp của Úc không phải ở tầm "xóa đói giảm nghèo" như ở Việt Nam mà nó còn tiến tới đích giàu có trội hơn nghành nghề khác.

Khi chính phủ có chính sách nông nghiệp hiệu quả, thì việc giữ chân người nông dân ở lại với nông nghiệp sẽ thành công. Điều đó có nghĩa là gánh nặng nông thôn di cư lên thành thị bị dỡ bỏ. Việc của chính quyền đô thị là giải quyết dân nghèo thành thị nữa là xong. Khi đó, cả dân nghèo của nông thôn và dân nghèo thành thị có mức sống nâng cao thì đất nước thoát nghèo. Nhưng chính sách nào để những nhà quản lí đô thị nâng cao đời sống dân nghèo của đô thị? Một trong những chính sách của chính quyền đô thị đó là quy hoạch. Nói nghe có vẻ vô lí nhưng kì thực nó là như vậy.

Như ta biết, xóa bỏ khu ổ chuột của đô thị, biến cư dân ổ chuột thành những khu văn minh hơn, sạch sẽ hơn và hưởng những dịch vụ tốt hơn là cách làm mà nhiều chính quyền đô thị trên thế giới đã làm thành công. Nếu bạn dạo chơi ở Melbourne, bạn chẳng thấy có khu ổ chuột nào cả thì đấy là chính sách quy hoạch hợp lý, mà nói đúng hơn là thành công của chính quyền thành phố.

Hoa thơm thì mời gọi ong bướm tới. Khu đô thị mới nó như một đóa hoa thơm, nếu đầu tư hợp lí sẽ hút được nhà đầu tư, người giàu tụ về, nếu bố trí khu tái định cư gần kề sẽ nâng được mức sống người dân nghèo. Số tiền thu được từ giá đất tăng vọt của khu đô thị đó sẽ được chính quyền dùng để hỗ trợ tái định cư cho các khu ổ chuột. Thế là sự hoán đổi xảy ra, những khu trung tâm thương mại hiện đại và những khu nhà ở khang trang sẽ dần thay thế cho dân nghèo và khu ổ chuột. Điều tối quan trọng là kinh tế phát triển theo để giải quyết việc làm cho dân nghèo.

Để chính quyền thành phố xóa được nhà ổ chuột, thì nông nghiệp phải giữ chân nông được người nông dân để họ không di cư về thành phố. Khi dân nghèo di cư về thành phố, chính sách xóa nghèo cho dân thành thị sẽ thất bại. Vì khi dân nghèo nông thôn tiến về thành thị thì cũng tựa như một ao có nhiều mạch nước ngầm vậy, tát mãi không bao giờ cạn nước.

Như vậy, với chính sách phát triển kinh tế nâng cao đời sống nhân dân được các nước làm đã nhiều. Chỉ cần thay đổi thể chế chính trị sao cho bộ máy nhà nước trong sạch thì vấn đề sẽ được giải quyết. Với chính quyền tham nhũng thì mọi chính sách dù hay đến đâu cũng đưa đến thất bại. Vì chính sách đối với người CS, nó là miếng bánh cho mình và cho đồng bọn, không phải cho quốc gia hay dân tộc gì cả. Cho nên với chính quyền CS họ chẳng làm điều gì thành công, ngoại trừ việc xả súng vào đồng bào.

FB Đỗ Ngà

"Vô sản thế giới buông nhau ra"

Thi Đào một bạn đồng nghiệp của tôi đã trả lời ông GSTS Nguyễn Xuân Thắng bí thư TW rằng:
"Thưa ông Nguyễn Xuân Thắng, CN Mác có lẽ giúp các ông - những người thuộc "giai cấp mới" - đang tay trắng bỗng dưng có rất nhiều tiền, rất nhiều đất thì có . Mặc dù cụ Mác chỉ muốn cướp những cái này của bọn tư bản, chứ không phải từ những kẻ khố rách.

Hay "cái phần được" ở đây cho các ông là do bỏ Mác (tư hữu, kinh tế thị trường, bắt tay với tư bản) cộng với giữ lại một phần của Mác (cái chuyên chế)?

"Các nhà khoa học cũng đặc biệt nhấn mạnh sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác ở các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nhờ vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay đã đạt được những thành tựu quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, qua đó, khẳng định tính đúng đắn và sức sống mạnh mẽ của chủ nghĩa Mác".

Hiện nay chỉ có 5 nước XHCN. Chắc hẳn không phải Lào chưa thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Chắc hẳn không phải Cuba đang chết đói. Chắc hẳn là không phải Bắc Triều vừa đang chết đói và làm Chí Phèo của thời đại. Còn mỗi hai anh em môi răng Trung Quốc, VN. Nhưng thằng anh Trung Quốc lúc nào cũng muốn ăn tươi nuốt sống VN; không ăn tươi nuốt sống được thì ông anh vĩ đại này đã và đang làm cho VN chết từ từ, chết trong vui vẻ.

Cụ Mác hô "Vô sản thế giới liên hiệp lại".

Nhà văn Nguyễn Khắc Thạch thì bảo: "Vô sản thế giới buông nhau ra".

FB Phùng Hoài Ngọc

KHÔNG VAY ĐƯỢC TIỀN NƯỚC NGOÀI, CỘNG SẢN QUAY SANG "LÀM THỊT" NHAU

Tất Thành Cang quê Long An, cùng quê với cựu chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Cang là tay chân thân tín của đế chế nhà Lê Thanh Hải, lãnh chúa thực sự của Sài Gòn trong hơn một thập kỷ vừa qua. Chỉ nhìn con dâu hờ Lý Nhã Kỳ nhà Lê Thanh Hải, người ta đã không thể hình dung gia sản của dòng họ Lê Thanh Hải có được.

Những đòn tấn công của các đối thủ vào đế chế nhà Lê Thanh Hải, lúc ông ta đã không còn trên vị trí quyền lực, là phản ánh đúng những gì mà dư luận đã đoán từ nhiều năm trước. Khi chế độ cộng sản VN không còn vay tiền được từ nước ngoài, chúng sẽ thịt lẫn nhau.

Quan chức và đại gia tuy hai mà một, có những quan chức sở hữu nhiều cổ phần trong các tập đoàn chả kém gì đại gia. Có những đại gia đưa ra mệnh lệnh khiến uỷ ban quận , thành phố răm rắp thực hiện không khác gì một lãnh đạo cấp cao.

Phát súng đầu tiên vào Tất Thành Cang.

Phát súng đầu tiên từ một phóng viên trẻ, một phóng viên mà nhiều đàn anh đi trước phải ngả mũ chào về độ sát thủ đối với các doanh nghiệp lớn.

Chàng phóng viên 8x này mỗi tối đi trên chiếc xe Mẹc mới cáu cạnh , ngồi giải trí ở những tụ điểm ăn chơi sang trọng ở Sài Thành tên là Nguyễn Tường Minh, sản phẩm một thời của Nguyễn Công Khế.

Đầu tiên anh ta chạy theo bà Tư Hường, người phụ nữ giàu có ở Sài Gòn, nhận bà làm mẹ nuôi và phục vụ truyền thông cho tập đoàn Tư Hường. Sau khi bà Tư Hường mất, anh ta quay sang phục vụ cho tập đoàn Hoa Lâm.

Anh ta có nhiều cú kiếm tiền ngoạn mục, chẳng hạn như bên ngoài nhận làm truyền thông cho thiếu gia Bùi Cao Nhật Quân, nhưng cũng chính anh ta đã tung ra vụ ảnh sex từ 4 nắm trước của thiếu gia này, rồi đứng ra dẹp hộ bằng cách liên hệ với nhóm công ty tin học, báo cáo khoá Facebook đưa thông tin vụ này, cũng như chặn tường lửa các trang webs site có đưa tin này.

Những công ty tin học như vậy đều có bàn tay của Cục an ninh văn hoá. Rất nhiều các nhà báo , nhà văn trong nước và cả ở nước ngoài có quan hệ với các cán bộ của cục A 87. Một số người vì đặc thù nghề nghiệp buộc phải xã giao , nhưng nhiều kẻ khác vì mối quan hệ bất minh như làm ăn, hoặc làm tay sai cho an ninh văn hoá. Nguyễn Tường Minh là dạng hợp tác làm ăn với cục an ninh văn hoá. Nguyễn Tường Minh từng viết một bài phóng sự công phu gửi đến cho bà đại gia Nguyễn Thị Phương Thảo và đề nghị trả 3 tỷ đồng để không đưa bài lên báo Người Tiêu Dùng, tờ báo mà Minh làm ông chủ.

Ô dù quá lớn, và tờ báo nhãi nhép như NTD không đáng để Nguyễn Thị Phương Thảo bận tâm. Bài phóng sự của Tường Minh được đưa lên NTD sau lời từ chối của bà Thảo. Đúng như bà Thảo nhận định, tờ báo nhãi nhép ấy không đủ sức nặng để động đến lông chân bà.

Rút kinh nghiệm vụ bà Phương Thảo, Tường Minh nhận thấy cần phải sử dụng đến mạng xã hội như Facebook mới tăng thêm áp lực tống tiền. Minh đã chọn Nguyễn Sin, một hiệp sĩ đường phố đang nổi có nhiều người theo dõi, biến Sin thành kênh đưa tin tức cho mình. Tường Minh đánh phá Chiêm Quốc Thái, Thái phải nhờ Khế can thiệp gỡ bài. Một tay chân nữa của Tường Minh là Ngoc Bao Chau, phóng viên đắc lực của mình trong vai trò định hướng mạng xã hội đã ngạo mạn đưa hình ảnh lẵng hoa của A87 tặng như thể hiện nhóm mình có công an văn hoá đứng đằng sau.

Nguyễn Tường Minh phục vụ cho tập đoàn Hoa Lâm khi bà Tư Hường mất đi.

Tập đoàn Hoa Lâm chính là tập đoàn chủ của trò xổ số Vietloot, trò chơi lừa đảo với người trúng thưởng hàng tỷ đồng nhưng bịt mặt nhận giải. Một trò lừa gạt kiếm bộn tiền bởi tâm lý máu me ảo tưởng từ dân chúng Việt. Trò xổ số lừa bịp này Hoa Lâm có chia phần cho cánh nhà Thân Đức Nam, tức chia phần cho thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Chỉ từ một cái nhà máy lắp ráp xe máy Dalim cho Trung Quốc, Hoa Lâm của Trần Thị Lâm đã nhanh chóng thành một nhà đầu tư bất động sản và trở thành một tập đoàn cờ bạc, tài chính, bất động sản trong thời gian ngắn với số tiền kiếm được hàng chục ngàn tỷ.

Hoa Lâm được cấp đất để làm dự án khu y tế kỹ thuật cao tại TP Hồ Chí Minh ở quận Bình Tân. Lợi dụng dự án này, Hoa Lâm muốn xây khu dân cư để kiếm chác tiền tươi, nhưng không được TPHCM tức Tất Thành Cang đồng ý.

Lý do không đồng ý là việc xây khu dân cư không có trong quy hoạch, là sai phạm.

Mà sai phạm không có ý kiến từ trên cao, Tất Thành Cang không dám nhận tiền cho qua.

Vì sao phía trên cao chưa có ý kiến xuống, vì Tp HCM đang thời kỳ xáo trộn chức bí thư.

Nhưng Trần Thị Lâm không nghĩ vậy, nếu như đây là lần đầu tiên Tất Thành Cang chặn hoặc cản dự án của bà, thì có thể còn hiểu do phía trên chưa có ý kiến. Đây là một trong nhiều lần Cang đã cản bà như dự án đất đai quận 2 thời Cang làm đó đã không màng đến Hoa Lâm, mà bán cho các đối thủ khác của bà như Nova. Thế nên tranh thủ lúc nhân sự HCM xáo trộn và đế chế nhà Lê Thanh Hải bị nhóm đến.

Trần Thị Lâm, bà chủ của Hoa Lâm đã chỉ đạo tay sai Nguyễn Tường Minh dùng báo chí và mạng xã hội mở những phát đạn nã vào Tất Thành Cang. Tạo đà cho báo chí lớn hơn vào cuộc với phí chiến đấu đến hàng tỷ đồng. Khi dư luận nên cao, trong Bộ chính trị các đồng minh của Hoa Lâm ở đó sẽ tấu đến Nguyễn Phú Trọng.

Số phận Tất Thành Cang sẽ kết thúc bởi những bản tấu của quan lại đại thần bên cạnh ông vua Nguyễn Phú Trọng người làng Lại Đà.

Tất Thành Cang sinh năm 1971, đang ở vị trí phó bí thư thường trực TPHCM, còn đường của y còn rất dài và sáng lạn. Y không chỉ có kẻ thù là Hoa Lâm, y còn có kẻ thù nữa là Minh Xoài, Minh Himlam.

Có một điều, nếu y trên chức phó bí thư thành uỷ TP HCM đã chỉ đạo bán đất giá rẻ cho doanh nghiệp. Thì cựu bí thư Hà Nội , ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng bây giờ áp giá cho Ciputra thấp hơn thực tế 8 lần, liệu ai xử ông.?

Dù Cang có bị thành củi hay không, thì những kẻ kền kền như Nguyễn Tường Minh vẫn thu bộn bạc về túi mình và mang danh một nhà báo dũng cảm, chống tiêu cực, chống sai trái.

Những kẻ đóng trong vai nhà báo chống tiêu cực ở Đà Nẵng như Hoàng Hải Vân ( tên thật là Huỳnh Văn Sánh họ hàng với Huỳnh Đức Thơ ) kỳ thực chỉ nhằm vào những đối thủ của Thơ. Hay nữ nhà báo anh hùng Dương Thị Nga gì đó của báo Giao Thông Vận Tải vốn vô danh, một ngày nổi tiếng anh hùng vì chống những đối thủ của Thơ, Nghĩa. Nên nhớ Nghĩa từng làm bộ trưởng GTVT trước khi về làm bí thư Đà Nẵng.

Những bọn nhà báo như vậy chống tham nhũng đã khiến cho dân chúng hý hửng hy vọng rằng có cuộc chống tham nhũng, tiêu cực. Chính chúng đã là mất đi tính chân thực của cuộc chống tham nhũng nếu có. Nếu như đảng CSVN và Nguyễn Phú Trọng muốn cuộc chống tham nhũng của mình có chính nghĩa, cần phải loại trừ những kẻ cơ hội, mượn gió bẻ măng để kiếm chác tiền như lũ nhà báo đàng điếm kia.

Làm sao có những tên nhà báo đi xe sang, uống rượu ngoại, ở biệt thự xài toàn đồ hiệu lại có thể là những nhà báo chân chính chống tham nhũng.?

Cái kết đẹp nhất để xử lý vụ này, trước tiên hãy xử lý những tên nhà báo như Nguyễn Tường Minh, tờ báo Người Tiêu Dùng và các sai phạm của Trần Thị Lâm. Tiếp đến cho Tất Thành Cang ra vành móng ngựa vì những sai phạm.

(ảnh: Tất Thành Cang)

Theo Thanh Hiếu Bùi

GIẢI TỎA MẤY NGÀN HỘ DÂN LẠI MẤT BẢN ĐỒ QUY HOẠCH!

Đó là những hồ sơ thật mà như đùa, có lẽ trước đây tôi đã phân tích là Vietnam is a surrealist's dream (Vietnam là giấc mơ của siêu thực). Đó là hồ sơ khó tin nổi là “bản đồ quy hoạch khu đô thị mới Thủ Thiêm mà người ta giải tỏa mấy ngàn hộ dân nó mất tích”. Chuyện nghe như đơn giản, nhưng nó cực kỳ nghiêm trọng, ấy vậy mà mấy ông thứ trưởng Bộ Xây dựng vội vã đăng đàn nói đã vô giá trị là hết thời hạn. Câu chuyện nghe như đùa vậy. Đúng là một đất nước đang vô chủ là vô chính phủ.

Tôi thì nghiệm ra rằng, các hồ sơ khác trong sinh hoạt kinh tế chính trị VN hiện tại, những đề xuất chuyện quái đản tốn kém đều do những cấp từ “Cục”, và cấp “Thứ trưởng” đề xuất. Từ đánh thuế xăng dầu, rồi đến thuế VAT, hay các đề xuất đầu tư vĩ cuồng mà cần gọi vốn con số quen thuộc 50 tỷ USD để đầu tư dự án kéo dài 50 năm đều do những cấp Thứ trưởng đề xuất. 

Những đề xuất đó thường phải do cấp Chính phủ và Quốc hội đưa ra, và nếu nó được chuẩn thuận thì phải do người đứng đầu cao nhất của Chính phủ ký và thi hành đạo luật đó. Ngay cả các nước tư bản cao độ như Mỹ nổi tiếng về lĩnh vực tài chính ngân hàng nổi tiếng là độc lập với Chính phủ thì những luật tài chính ngân hàng mới nó phải do Quốc hội và Chính phủ Liên bang phê chuẩn và thi hành, những đạo luật đưa ra phải do người đứng đầu các Hạ viện, Thượng viện chuẩn thuận, và được Tổng thống ký thành luật.

Tuy nhiên ở VN thì khác biệt, đó là quốc gia này đang đẻ ra các luật ma quỷ đều do những thành phần “Cấp phó”, hay “Cấp Thứ trưởng” đề xuất và thi hành. Khốn nỗi những đám người cấp Phó này thì đông hơn quân Nguyên, và rất kém chuyên môn. Họ gần như làm thay mọi thứ những chuyện khó tin nổi ở xứ này. Những thành phần này đều ngồi nhầm chỗ. Tôi lấy ví dụ ngay cả cái Bộ Xây dựng này. Đó là bộ có 1 ông Bộ trưởng, và dưới đó là 5 Thứ trưởng. Các bộ khác cũng thế, có lúc cao trào thì có tới 7 thứ trưởng.

Đó là hậu quả cái đất nước này rối tung lên bởi những phát ngôn và những đề xuất quái đản đang gây nhiễu loạn cho đất nước này. Nước khác họ chỉ có một ông bộ trưởng và 1 cấp Phó, hoặc quá lắm là 2 cấp Phó, phần còn lại là những cố vấn chiến lược được chọn lọc phải am hiểu rất chuyên môn từng lĩnh vực để tư vấn cho cấp bộ trưởng.

Tôi hay nhắc lại chuyện khá bi kịch cho VN về hồ sơ Formosa Vũng Áng xả thải chất độc trước đây gieo rắc nỗi kinh hoàng cho nhiều tỉnh, nhiều bang ở vùng biển VN thì nhân vật cấp thứ trưởng Võ Tuấn Nhân, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, từng kiêm nhiệm chức Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khóa 12, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khóa 13. Ông này có những đề xuất và có những phát biểu rất quái đản. Nó cũng dễ giải thích mấy tay chân cấp Phó này trình độ chuyên môn là Tiến sĩ Xã hội học mà đi làm chức Thứ trưởng về khoa học công nghệ, thay vì chức tước đó nó do cố vấn, là một chuyên gia về lĩnh vực khoa học chuyên ngành đó.

Ngay cả cái Bộ Xây dựng VN, thì đối với một quốc gia như VN thì họ cần một ông bộ trưởng phải am hiểu chuyên ngành đó, và phải có chuyên môn và kinh nghiệm lĩnh vực đó, còn lĩnh vực kinh tế hay đầu tư thì cần bổ nhiệm các cố vấn là chiến lược gia phân tích kinh tế và đầu tư giàu kinh nghiệm là đủ để thay thế các cấp Thứ trưởng. Tuy nhiên cái chuyện ngẫu nhiên trùng hợp thì tôi lại khá bất ngờ là chức danh Bộ Trưởng Bộ Xây dựng hiện tại của VN là một ông chỉ lấy bằng Thạc sĩ Kinh tế năm 2007 điều hành cái Bộ Xây cất này. Trước đó ông Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng hiện tại thì giữ chức thì dính dáng đến nghiệp vụ làm kinh tế nhiều hơn nghiệp vụ làm kỹ sư xây dựng,… đó là chuyện quái đản đang diễn ra ở VN, và nó đang ung thối bùng phát khi mà nền kinh tế VN nó đổi mới nhanh hơn dự kiến thì những người lãnh đạo già nua bảo thủ có thời chiến tranh lại đang không theo kịp và không hiểu biết được nên cái đuôi thì chạy trước cái đầu, rốt cục quốc gia này đang ra những chuyện rối tung. Đó là những di sản tàn tích còn lại thời Liên Xô đào tạo ra những con người làm kinh tế đang lãnh đạo VN họ đã đuối sức không theo kịp sự đổi mới của quốc gia này, họ là nguyên nhân kéo sự trì trệ của VN bằng não trạng bảo thủ giáo điều.

Nguồn: Phuong Thơ - Tạp Chí Kinh tế, Tài chính, Chứng khoán

Chân dung tình báo Hoa Nam Lý Nhã kỳ

Tình báo Trung Quốc sử dụng Lý Nhã Kỳ và một số người mẫu nổi danh, tiến hành mồi chài khiến hàng loạt lãnh đạo là Ủy viên Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa 11 đã sa bẫy và bị khống chế như thế nào?

Tài sản của Lý Nhã Kỳ.
Đầu năm 2017 báo vietnamnet đưa bài viết ca ngợi về ngôi biệt thự sang trọng dát vàng của Lý Nhã Kỳ.
Choáng ngợp ‘lâu đài' dát vàng của Lý Nhã Kỳ - Vietnamnet
Ngôi biệt thự xa hoa, tráng lệ này nằm trên khu đất đắt đỏ nhất của Sài Gòn. Giá trị của nó đến hàng triệu USD.
Lý Nhã Kỳ sinh năm 1982, là một diễn viên hàng xoàng với vài vai diễn. Lý Nhã Kỳ nổi tiếng bởi những lần xuất hiện với váy áo, trang sức hàng tỷ đồng. Người ta đồn rằng sự giàu có của Lý Nhã Kỳ là do cô là con nuôi của bà tỉ phú Alice Chiu chủ tịch tập đoàn Henyep và quỹ từ thiện Sheen Hok. Rồi lại có thêm bà mẹ nuôi thứ hai là bà Madame Wong chủ tịch tập đoàn kim cương Enigma Hồng Kông.
Cựu chủ tịch Trương Tấn Sang và Lý Nhã Kỳ - Choáng ngợp ‘lâu đài' dát vàng của Lý Nhã Kỳ Vietnamnet
Trích báo Việt Nam đưa tin.
Anh nuôi Lý Nhã Kỳ cũng là những người có quyền lực, hết sức giàu có. Đó là người anh nuôi tỷ phú Soofeen Hu - một nghệ nhân nổi tiếng người Trung Quốc gốc Myanmar. Sofeen Hu được xem là ông vua ngọc thế giới, người đã sáng lập ra Viện Bảo tàng những tác phẩm nghệ thuật làm từ ngọc bích tháng 8/2009.
Không dừng lại ở đó, cô còn có thêm người anh nuôi tỷ phú thuộc giới thượng lưu của Philippines là ông Chavit Singson.
Chavit Singson, tên thật là Luis Crisologo Singson, khởi nghiệp là một doanh nhân. Sau đó, ông tham gia chính trường, trở thành một chính khách có tầm ảnh hưởng ở Philippines. Ông đang giữ chức Thống đốc bang Vigan kiêm cố vấn an ninh Chính phủ (Governor Security Adviser)
Lý Nhã Kỳ cũng từng chia sẻ, cô có người chị kết nghĩa là quản lý ở Đài truyền hình Hồng Kông TVB. Hiện nay người chị này đang quản lý trong tay khoảng 700 nghệ sĩ. Cô cho rằng, gặp gỡ chị là cơ hội để Lý Nhã Kỳ giới thiệu cho mọi người biết đến diễn viên Việt Nam.
Sự giàu có bí ẩn của Lỹ Nhã Kỳ có thể được “phiên dịch nôm na” (chưa có kiểm định) rằng do những mối quan hệ “nặng đô” của cô mà ra. Tuy nhiên, vì sao mà cô có được những mối quan hệ “siêu đẳng cấp này” thì vẫn là một điều gây tò mò.
Hết trích.
Bản thân tác giả bài báo mặc dù liệt kê những mối quan hệ với các tỷ phú quốc tế, cuối cùng tác giả cũng không biết bì sao cô có những mối quan hệ này và giàu có đến vậy.
Mời xem Video: Theo chỉ thị của Tình báo Hoa Nam Lý Nhã Kỳ đã đưa hàng loạt lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam sập bẫy thế nào?
Câu chuyện con nuôi của các tỷ phú chỉ là màn kịch che đậy sự thật nào đó. Hẳn trong chúng ta đều hiểu những đứa con nuôi nhận từ khi đỏ hỏn của các nhà tỷ phú khó mà có thể được nuông chiều như vậy, thậm chí con ruột cũng còn không được. Các tỷ phú nước ngoài không dễ dàng gì cung phụng tiền bạc cho con cái mình ăn chơi xa hoa. Chỉ trừ những tay tỷ phú đỏ xuất thân từ những nước độc tài. Cho nên không thể có chuyện những tỷ phú, mẹ nuôi, anh nuôi mới nhận của Lý Nhã Kỳ có thể dốc tiền cho Kỳ sắm đồ thời trang và nhà cửa hàng triệu USD như thế. Câu chuyện con nuôi tỉ phú chỉ lừa được những người dân ít hiểu biết trong nước, hàng ngày đọc tin của báo Việt Cộng và hình dung có những chuyện màu nhiệm như thế. Còn với những người sinh sống và hiểu biết, nhất là những người sống bên ngoài chẳng ai tin có chuyện viển vông này cả.
Về hoạt động kinh doanh kim cương, tư vấn của Lý Nhã Kỳ. Báo chí cho biết tập đoàn của bà chủ này kinh doanh toàn lỗ vốn.
Tập đoàn của Lý Nhã Kỳ thua lỗ hàng tỷ đồng - FICA
Vậy tiền đâu ra Lý Nhã Kỳ có những tài sản đồ sộ như vậy?
Năm 2008 và 2009 Lý Nhã Kỳ bắt đầu có những quan hệ với giới doanh nhân, đầu tiên cô ta chỉ là người quảng bá cho hãng xe ô tô và hàng mỹ phẩm. Đến năm 2009 cô bất ngờ tạo được bước ngoặt khi sang dự Lễ trao giải từ thiện của Liên Đoàn Báo Chí Trung Quốc theo lời mời của bà mẹ nuôi mới nhận lúc đó là bà tỷ phú Alice Chiu.
Và bắt đầu từ đây, bỗng nhiên Lý Nhã Kỳ trở nên thành một đại gia giàu có lẫy lừng.
Năm 2008 tổng cục tình báo công an tức tổng cục 5 là Bùi Văn Nam, hiện ông Nam đang là thứ trưởng thứ nhất của bộ công an. Trước đó 2 năm, ông Lê Thanh Hải nhận chức bí thư thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh.
Bùi Văn Nam và Lê Thanh Hải có mối quan hệ khăng khít, khi Nam được đôn từ Ninh Bình lên làm thứ trưởng công an vào năm 2013. Lê Thanh Hải đã dẫn đoàn đại biểu thành phố Hồ Chí Minh ra Bắc chúc mừng.
Lê Thanh Hải ông trùm đầy quyền lực và tiền bạc đất phía Nam, gắn bó với ông Bùi Văn Nam tổng cục trưởng tình báo công an và sau này là thứ trưởng Bộ Công An. Điều ấy liên quan gì đến khối gia sản bất ngờ mà có của Lý Nhã Kỳ?
Phải chăng chỉ là trùng hợp thời điểm khi hai vị này gắn kết quan hệ với nhau cùng thăng tiến cũng là lúc Lý Nhã Kỳ cùng bất ngờ có quan hệ với các tỷ phú gốc Trung Quốc và bỗng nhiên có khối tài sản khổng lồ trên trời rơi xuống.
Câu trả lời nằm ở con trai của Lê Thanh Hải, người con trai có tên là Lê Trương Hiền Hoà.
Về chức vụ Lê Trương Hiền Hoà khá khiêm tốn, anh ta là giám đốc trung tâm phát triển du lịch TPHCM. Nhưng không ai biết được Lê Trương Hiền Hoà còn là cán bộ tổng cục 5, chiến sĩ công an tình báo dưới sự bảo trợ của Bùi Văn Nam. Hiện anh ta vẫn là cán bộ của Tổng Cục 5 dù bên ngoài gắn mác doanh nhân.
Nếu Lê Thanh Hải được Trương Tấn Sang đỡ đầu vụ cướp đất Thủ Thiêm lời hàng tỷ usd tiền chênh lệch đất cùng với nhóm Đăng Thành Tâm, Đặng Hoàng Yến ( phe ruột của Triết để lại cho Tư Sang ). Thì Bùi Văn Nam được Sang tiến cử làm bí thư Ninh Bình làm bàn đạp lên thứ trưởng Bộ Công An, hòng đoạt chức bộ trưởng công an.
Không phải chỉ là một người đẹp mà Lý Nhã Kỳ được chụp ảnh thân thiết với ngài chủ tịch nước Tư Sang và ngài thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Lý Nhã Kỳ - Choáng ngợp ‘lâu đài' dát vàng của Lý Nhã Kỳ Vietnamnet
Lý Nhã Kỳ là bồ của Lê Trương Hiền Hoà từ nhiều năm nay, cô ta là một mắt xích trong một chuỗi tập đoàn khổng lồ ngầm là Trương Tấn Sang, Lê Thanh Hải, Bùi Văn Nam. Một tập đoàn bao trùm về kinh tế, chính trị, an ninh với nhau. Không phải là bồ của Lê Trương Hiền Hoà, liệu các tỷ phú Hoa Kiều kia có nhận Lý Nhã Kỳ làm con nuôi hay không? Chắc chắn chẳng bao giờ nếu những tỷ phú này không trông thấy thế lực đằng sau Lý Nhã Kỳ.
Mối quan hệ tình ái với Lê Trương Hiền Hoà đã giúp cho Lý Nhã Kỳ được lựa chọn làm mắt xích để rửa tiền cho tập đoàn Trương Tấn Sang, Lê Thanh Hải, Bùi Văn Nam. Tất nhiên ở cương vị nắm giữ tình báo, việc rửa tiền như thế không thể nào qua mắt được Nam. Bởi thế việc đưa Nam vào mắt xích này là điều đương nhiên mà Lê Thanh Hải, Trương Tấn Sang phải làm. Bùi Văn Nam đã được Sang và Hải trả công hậu hĩnh bằng tiền bạc và chức thứ trưởng, suýt lên bộ trưởng ở nhiệm kỳ vừa qua.
Lọt vào một đường dây lớn của những ông trùm đầy quyền lực như thế, khối tài sản mà Lý Nhã Kỳ có , đâu có gì là bí hiểm.
Nhưng đằng sau đồng tiền kếch sù của Lý Nhã Kỳ có được do làm trung gian rửa và chuyển tiền cho nhóm Trương Tấn Sang, Lê Thanh Hải, Bùi Văn Nam, còn là một tội ác khủng khiếp đối với đất nước. Đó là nhóm này đã giúp cho những Hoa Kiều quân 5 cướp những khu đất vàng ở TP Hồ Chí Minh như Trương Mỹ Lan và ông chồng là chủ tập đoàn bất động sản Hồng Kông.
Lý Nhã Kỳ được các bà mẹ nuôi tỷ phú gốc Trung Quốc cho tiền ư? Dễ biết thôi, cho tiền mặt thì 10 ngàn usd trở aên mang vào Việt Nam phải khai báo. Chuyển qua ngân hàng cũng dễ kiểm tra thôi, mã chuyển tiền ngày nào, giờ nào.
Tuy nhiên một khi tổng cục tình báo của bộ công an đã làm ngơ không biết, thì không một cơ quan hay đơn vị nào trong chế độ Việt Nam dám biết cả.
Mời xem Video: Nguyễn Thanh Nghị con trai Ba Dũng sẽ mất chức Bí thư Kiên Giang vì sai phạm đất đai tại Phú Quốc?
Số tài sản khổng lồ mà Lý Nhã Kỳ có được, không phải chỉ là tiền cướp đất, cướp tài nguyên quốc gia. Đáng sợ hơn , có khi nó còn ẩn chứa những hành động bán nước cho thế lực ngoại bang núp đằng sau những bà mẹ tỷ phú gốc Trung Quốc.

+https://www.facebook.com/likechovietnam/posts/1254300208002273
+https://www.youtube.com/watch?v=w_Ie5o1ZG_0

Người Buôn Gió
 

ĐỪNG TIẾP TỤC ‘ĂN MÀY DĨ VÃNG’

Một trong những tác phẩm văn học về đề tài chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất viết sau 1975 của tác giả Chu Lai, một cựu sỹ quan của phía “bên thắng cuộc”, có cái tên rất lạ: Ăn mày dĩ vãng.
Nội dung câu chuyện xoay quanh nhân vật Hai Hùng, một biệt động quân Cộng sản, đi tìm lại ký ức, tìm lại người yêu, những người đồng đội cũ. Anh ta không còn gì sau cuộc chiến, ngoài “mảnh quá khứ đập phập phồng trong lồng ngực”.
Những người lính như anh, hướng về dĩ vãng, cầu mong cho dĩ vãng ấy “trong lành, chân thật” như một thứ cứu cánh cho hiện thực cay đắng, bẽ bàng. Những “người hùng” năm xưa, trở thành kẻ nát rượu, ngây dại hoặc tàn phế như Hai Hùng, lạc lõng giữa dòng đời, họ “ăn mày dĩ vãng” để tiếp tục “sống không bằng chết”.
Dĩ vãng vừa là sự hành hạ ghê gớm, vừa là lý do để tồn tại, nguồn an ủi từ ánh hào quang rọi chiếu từ quá khứ mộng mị, lẫn lộn giữa ký ức và thực tại, giữa hoang tưởng và lý tưởng. Tuy vậy, có thể, anh ta còn may mắn hơn nhiều đồng đội cũ đã tan thây trong cuộc chiến một cách vô danh, hay thảm hại hơn, trở thành những “dân oan” lăn lóc ở những vỉa hè Hà Nội, kêu khóc đòi lại nhà cửa bị cưỡng chiếm bởi chính chế độ mà anh đổ xương máu và tuổi trẻ dựng xây lên, sau nhiều thập kỷ hòa bình.
Tôi không định viết về tác phẩm của Chu Lai – một tác phẩm mà theo tôi đã thành công và gây nhiều ấn tượng cho những người ở “bên thắng cuộc”. Tôi muốn viết về cái ngày 30.04 của dân tộc Việt Nam, về những thứ “vinh quang”, “chiến thắng chấn động địa cầu”, “lừng lẫy năm châu” mà toàn bộ hệ thống tuyên truyền, giáo dục, thông tin… dưới sự “định hướng xã hội chủ nghĩa” của đảng cộng sản, đã “ra rả” suốt 43 năm qua như một lý lẽ cho sự “chính danh” của thể chế.
Thế hệ sinh ra sau chiến tranh không có những trải nghiệm kinh hoàng và hy sinh xương máu như những thế hệ cha ông, nhưng Benjamin Franklin từng nói “Chiến tranh không được trả giá trong thời chiến, mà hóa đơn của nó sẽ đến sau đó” – thế hệ của chúng tôi là thế hệ trả những “hóa đơn” của cuộc chiến hôm qua. Những món nợ mà không biết đến bao giờ trả hết. Chúng tôi muốn tìm hiểu về những thứ “vinh quang” của “dĩ vãng” có thực sự hay không? Cái “hóa đơn” mà nhiều thế hệ tiếp nối của đất nước này phải trả, đổi lấy những gì mà dân tộc này đang nhận được có xứng đáng hay không?
Cuộc chiến đã lùi xa 43 năm, trong thời đại internet, những thế hệ sau muốn thực sự tìm hiểu, sẽ có rất nhiều thông tin trung thực chứ không phải thứ tuyên truyền dối trá như thế hệ của chúng tôi phải tiếp nhận từ hệ thống giáo dục nhồi sọ và tuyên truyền “tẩy não” của nhà nước Cộng sản Việt Nam.
Năm 2017, “The Vietnam War” của Ken Burns và Lynn Novick được phát hành sau 10 năm công phu thực hiện, tổng hợp và sưu tầm kho dữ kiện khổng lồ từ phía Mỹ và trên khắp thế giới, cung cấp cho chúng ta những hình ảnh, chứng cứ, sự kiện, dữ liệu… mà cho đến nay dư luận nói chung chưa hài lòng về độ trung thực của nó. Dù rằng, vẫn có những đánh giá nhà sản xuất có nhiều khuynh hướng “thiên tả”; nhưng chừng đó dữ liệu, đủ cho thế hệ sau biết về cuộc đối đầu tàn khốc giữa hai nửa thế giới. Một bên là Quốc tế cộng sản với hai “đế quốc Đỏ” là Trung Quốc và Liên Xô, một bên là Mỹ và đồng minh cố gắng chặn bước tiến của Cộng sản chủ nghĩa đang “nhuốm đỏ” Châu Á.
Lịch sử đã có những khúc quanh nghiệt ngã nhưng chủ đích “dù phải đốt cháy dãy Trường sơn cũng phải giành được Độc lập” và “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” của những lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt, đã đưa Việt Nam vào cuộc chiến tranh ủy nhiệm tàn khốc nhất trong lịch sử loài người.
“Núi xương, sông máu” đã đổ xuống ở cả hai miền Nam Bắc. Tham vọng của người Cộng sản được che giấu bằng lý tưởng “Độc Lập dân tộc”, “giải phóng” miền Nam đang bị “Mỹ Ngụy dày xéo, áp bức”. Những lớp thanh niên miền Bắc ưu tú, trong sáng, tin vào những “lý tưởng” đó như Nguyễn Văn Thạc trong “Mãi mãi tuổi hai mươi” hay bác sĩ Đặng Thùy Trâm.
Những thanh niên đó đã bị “ném” vào guồng máy chém giết đồng loại có cùng chủng tộc, thậm chí có thể cùng huyết thống trong một gia đình hay dòng tộc ở phía bên kia chiến tuyến với một lòng thù hận được giáo dục từ nhỏ và một niềm tin ngây ngô về thứ “lý tưởng kách mạng”.
Với dép râu, nón cối và súng AK47 của Trung Cộng, tên lửa, xe tăng, đại pháo của Liên Xô, hàng triệu người lính Bắc Việt băng qua vĩ tuyến 17 để “giải phóng” miền Nam. Để rồi đến cái ngày 30.04.1975, những thanh niên đó (nếu còn sống) ngỡ ngàng đứng trước Dinh Độc Lập và thủ đô phồn hoa, tráng lệ của VNCH.
Những người trí thức phản tỉnh như Dương Thu Hương đã quỳ xuống đường và “khóc như cha chết” vì hiểu rằng, tất cả là một sự lừa dối khủng khiếp. Cả một dân tộc đã bị phỉnh lừa, nhân danh dưới những lý tưởng đẹp đẽ, là những tham vọng đê hèn như câu nói để đời của Đỗ Mười – TBT đảng CSVN đã lột tả hết bản chất của cuộc chiến hôm qua:
“Giải phóng miền Nam chúng ta có quyền tịch thu tài sản trưng dụng nhà cửa, hãng – xưởng, ruộng đất chúng nó [ám chỉ người dân miền Nam], xe chúng nó ta đi, vợ chúng ta lấy, con chúng nó ta bắt làm nô lệ, còn chúng nó thì ta đày đi kinh tế mới và nơi rừng sâu nước độc, chúng nó sẽ chết lần mòn”.
Rất nhanh chóng, những đoàn quân “giải phóng” mới hôm qua gương cờ “chính nghĩa kách mạng”, thì sau ngày 30.4.1975, đã biến thành những đoàn quân thảo khấu thực sự. Lính tráng thì thu nhặt từng chiếc đồng hồ, cái đài cassette, chiếc cub, cán bộ cấp cao hơn thì giành nhau những tài sản lớn hơn như xe hơi, biệt thự, nhà phố lớn…
Người CS đã vơ vét, cướp đoạt sạch sẽ tài sản của một quốc gia giàu có bậc nhất Châu Á lúc đó, để trả nợ chiến phí và mua bo bo để ăn. Việt Nam trở thành nhà tù khổng lồ sau cuộc chiến chấm dứt. Những nhà tủ nhỏ để tù đày hơn 1 triệu người lính VNCH và âm thầm giết hại thêm 164,000 người trong hơn một thập kỷ sau đó.
Nhà tù lớn hơn để giam giữ, kiểm soát cả một đất nước dưới gông ách côn an trị, côn đồ trị, đẩy quốc gia vào những cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội và nhân đạo kinh hoàng. Cuộc vượt biển của 1,5 triệu người dân miền Nam để kiếm tìm Tự do và sự sống trong nỗ lực sinh tồn cuối cùng. Hơn 200.000 người vùi thân nơi lòng đại dương, bị cướp biển giết chết hoặc bị chính những con tàu biên phòng của CSVN đâm chìm sau khi đã thu tiền để “tổ chức” đám tang tập thể cho họ dưới đáy mồ đại dương…“Thuyền nhân” là ký ức đau thương của những cộng đồng người Việt hải ngoại – những người bị thể chế CSVN gọi là “bọn phản động”, “lũ ba que đu càng” bán nước… hôm qua, giờ đây, được Hà Nội “trìu mến” với tên gọi “khúc ruột ngàn dặm” là “máu thịt của máu thịt Việt Nam” khi mỗi năm đem về hơn 10 tỷ USD để xây dựng quê hương.
Sau ngày 30.4.1975 nhiều thập kỷ, đất nước tuy thống nhất về mặt địa lý nhưng chưa bao giờ, lòng người lại ly tán và chia rẽ như bây giờ. Đó không phải là do chiến tranh mà do sự cai trị phân biệt, chế độ hà khắc, tham tàn của người CS. Tất cả những tuyên truyền dối trá, tất cả sự hủy hoại xã hội bởi sự hận thù, ngu xuẩn của người cộng sản cho đến ngày hôm nay vẫn chưa hề dừng lại. Người cộng sản kết thúc cuộc chiến hôm qua bằng một cuộc chiến khác. Những người CS nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Tất cả tiếng nói phản biện, những đòi hỏi về Dân chủ, Tự do ngôn luận, Minh bạch, Nhân quyền, đều là “thế lực phản động”. Thể chế sinh ra từ thù hận và cướp bóc này giống như một con quỉ dracula luôn cần máu tươi để duy trì sự tồn tại “muôn năm” của bản thân. Thật trớ trêu, khi triệu máu xương đã đổ xuống cho những lý tưởng “Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc” nhưng hiện thực là gì? Một dân tộc bị phụ thuộc, dân quyền mất Tự do và Hạnh phúc với đại đa số người dân chỉ là bến bờ ảo vọng.
43 năm qua, thành tựu của người cộng sản đã biến một quốc gia “rừng vàng biển bạc” thành “rừng tan, biển chết”. Một xã hội “có thể” nhiều hơn về vật chất, nhưng tha hóa tận gốc rễ về chính trị, văn hóa, giáo dục… một xã hội không đức tin và không cội nguồn. Đại đa số người dân lao động, với thu nhập bình quân chỉ bằng 1/10 so với mặt bằng thu nhập của khu vực, phải chịu đựng một chế độ thuế phí kinh hoàng, sống trong một xã hội thường trực với mọi rủi ro, từ tai nạn giao thông, lao động, bệnh tật, bị đầu độc bởi ô nhiễm môi trường, bởi thực phẩm bẩn, dược phẩm giả, bị nhũng nhiễu bởi mọi tầng lớp và lực lượng “công bộc”. Một xã hội mà những đứa trẻ sinh ra đã biết nói dối và không biết nói lời xin lỗi hay cảm ơn. 90 triệu người dân hôm nay thành con nợ của thể chế và ngoại bang.. Những “tấm hóa đơn” mỗi ngày một dài thêm và không biết bao giờ mới có thể trả hết?
Ngày 30.04 hàng năm, ngày mà “triệu người vui, triệu người buồn” như lời ông Võ Văn Kiệt, người cộng sản lại ca hát, tung hô, kỷ niệm “chiến thắng” trong cuộc nồi da xáo thịt tàn khốc, để vinh danh điều gì? “Có hai cách để chinh phục và nô dịch một quốc gia: Một cách bằng thanh gươm và cách thứ hai bằng nợ nần” (John Adams) – bằng cuộc chiến của 43 năm trước, người cộng sản đã đem cả hai điều tồi tệ đó cho dân tộc và đất nước này. Vinh quang nào xây từ xác đồng bào của mình? Chẳng có gì đáng tự hào về cuộc chiến ngu xuẩn, đẫm máu đó cả và vì vậy đừng tiếp tục “ăn mày dĩ vãng” thêm nữa.
Tân Phong, 29.04.2018

Câu chuyện lần đầu tiên kể : Câu chuyện của chị Trang

Những ai sống ở phường 13 quận 10 Saigon vào những năm 1985-1986 chắc đều sẽ nhớ chị Trang , vì chị là hoa khôi của xóm lúc bấy giờ . Chị đẹp lắm , đẹp rạng ngời nhưng thùy mị , đôi mắt to , gương mặt trái xoan và mái tóc dài , đặc biệt chị có đôi môi chúm chím và hàm răng trắng đều như hạt bắp . Các anh trai trong xóm người nào cũng thầm yêu trộm nhớ chị .

Chị Trang là con gái duy nhất của ông Tuấn và bà Thu . Ông Tuấn là sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa , sau 1975 bị đày đi học tập cải tạo tận ngoài Bắc . Bà Thu trước chỉ ở nhà nội trợ , sau khi chồng bị bắt tù thì bà phải bươn chải 1 mình nuôi con , cực nhọc với gánh bán chè bắp ngày 2 buổi ở chợ Vườn Chuối .

Chị Trang là bạn học của chị Hai của Nhi , 2 người học ở trường Couvent Des Oiseaux của Pháp , sau này bị đổi tên thành trường Lê Thị Hồng Gấm . Năm ấy chị học lớp 11 , đi học về chị phụ mẹ buôn bán , 2 mẹ con sống vất vả nhưng khá bình an trong tình thương mến của bà con chòm xóm .

Tai nạn ập đến nhà chị Trang khi 1 tên công an khu vực tên Bảo từ Hà Nội vào Nam , đến phường 13 quận 10 để nhận công tác . Vì là công an khu vực nên hắn được cấp cho 1 căn nhà 2 tầng ngay mặt tiền đường Điện Biên Phủ ( trước kia là đường Phan Thanh Giản ) . Nghe nói hắn đã có vợ con ngoài Bắc , nhưng chỉ vào 1 mình , vợ hắn còn phải chăm lo ruộng vườn chi đó ngoài ấy .

Tên Bảo vừa gặp chị Trang là mê tít . Hắn thì tướng tá cục mịch , mặt mũi đen nhẻm , răng vừa hô vừa vàng , lại lùn tịt có 1 mẩu . Thế nhưng hắn oai lắm , người dân trong khu vực rất sợ hắn , vì hắn có chức có quyền . Là công an khu vực , hắn nắm quyền sinh sát trong tay . Hắn mà ghét ai thì người đó chỉ có chết , vì hắn có thể bịa ra đủ thứ chuyện để mà hành cho sống dở chết dở . Nửa đêm hắn có thể đến nhà đập cửa ầm ầm đòi xét hộ khẩu . Nguy hại hơn nữa , hắn mà vu cho cái tội phản động hay chống phá gì đấy thì có thể nhà tan cửa nát , đi tù mọt gông !

Tên Bảo thích chị Trang , gặp chị ở đâu là hắn sà đến trêu gọi , cười nhăn nhở tán gái khiến chị kinh hãi . Chị tìm cách tránh né thì hắn đến tận nhà vịn cớ này cớ kia vào khám xét . Bà Thu , mẹ chị Trang , lo đến mất ăn mất ngủ , còn hàng xóm láng giềng thấy hoàn cảnh thì thương cho mẹ con chị nhưng chẳng ai dám can thiệp vì ai cũng quá sợ tên Bảo hung hăng .

Chị Trang kể 1 lần hắn đến nhà , khệnh khạng ngồi ghế salon uống ly trà mẹ chị rót mời xong , hắn nói :

" Gia đình em thuộc diện phản quốc , bố em là lính Ngụy có nợ máu với nhân dân , lẽ ra bị xử bắn , em và mẹ em lẽ ra phải đi tù , nhà cửa phải giao lại cho cách mạng . Nhưng đảng và nhà nước ta khoan hồng , nên bố em được đi học để thành người tốt , mẹ con em được làm ăn buôn bán , em phải biết ơn đảng biết ơn cách mạng .

Còn anh , anh cũng rất khoan hồng , anh muốn giúp đỡ em và mẹ em , nếu em về sống chung với anh , anh sẽ giúp mẹ em có 1 sạp để bán không phải gánh đi gánh về và anh sẽ có cách cho bố em sớm được về đoàn tụ " .

Tuy trong lòng kinh tởm tên Bảo , nhưng thương mẹ thương cha , chị Trang đắn đo việc hy sinh đời con gái để cứu cha trong tù . Lần đi thăm nuôi kế tiếp , ngồi giữa đám quản giáo trại tù đang canh chừng tù nhân và người thăm tù như cú vọ , chị Trang tìm cách đánh tiếng hỏi cha . Chị nói :

" Ba ơi , ở nhà dạo này có anh công an khu vực , ảnh tốt lắm , ảnh nói nếu con thích ảnh sẽ tìm cách giúp ba .... "

Ông Tuấn ngẩng lên nhìn con , 2 chân mày cau lại . Mặc dù con gái chỉ nói bóng gió nhưng ông hiểu . Ông lắc đầu và lựa cách nói lại :

" Con nói anh ta ba cám ơn . Ba chưa muốn về đâu . Khi nào học xong người ta cho ba về thì ba về . Không cần anh ấy nhọc lòng . "

Thời điểm ấy , quản giáo và công an canh chừng , theo dõi từng câu nói giữa tù nhân và thân nhân , nói sai 1 điều gì là lãnh đủ hậu quả ngay . Nhẹ thì không được thăm , không được nhận quà , nặng thì bị biệt giam bị đánh đập , nên gặp nhau muốn nói gì cứ phải nói bóng nói gió , nói trí trá đi như thế . Nhưng chị Trang cũng hiểu . Chị gật đầu vâng dạ . Hai cha con nhìn nhau , nước mắt chảy ngược vào trong .

Mặc dù chị Trang từ chối , nhưng tên Bảo vẫn không bỏ cuộc mà càng bám riết . Hắn tìm mọi cách để tiếp cận chị . Gặp chị thì nắm chân nắm tay , cười nhăn nhở . Nhà có việc phải lên phường hay lên công an , bà Thu đi thì hắn không tiếp , đòi bắt phải là chị Trang lên thì hắn mới giải quyết .

Lo sợ cho con gái , bà Thu âm thầm tìm người móc nối , rồi dốc số vàng dành dụm được cho chị đi vượt biên . Lúc chị đi , bà phải nhờ người bà con dưới quê dàn cảnh , giả bộ nói bà ngoại bệnh , cần chị về chăm sóc . Người bà con từ Vĩnh Long lên tận Saigon , đến nhà đón chị đi trước mặt tên Bảo .

Đó cũng là lần cuối cùng bà con chòm xóm nhìn thấy chị Trang . Sau nhiều tháng trời bặt tin tức , 1 hôm có người có bà con đi cùng thuyền đến báo với bà Thu là thuyền đã tới Thái Lan , nhưng chị Trang và vài người nữa đã bị hải tặc bắt đi mất tích , chắc đã chết rồi . Chuyến vượt biên đó bị hải tặc cướp đến 4 lần , khi cập bến Thái thì chỉ còn vài thanh niên sống sót .

Bà Thu nghe tin như sét đánh ngang tai , ngã xỉu tại chỗ . Từ đó bà đâm ra ngớ ngẩn , cả ngày cứ ngơ ngơ đi ra đi vào , không còn buôn bán được nữa . Chiều chiều bà bắc ghế ra cửa ngồi đến tối mịt để " chờ con Trang về " . Bà con chòm xóm thương tình nên đùm bọc bà , mỗi ngày đều sang thăm và chia cho bà miếng cơm manh áo . Còn tên công an khu vực , nghe chuyện thì bĩu môi " Cho nó chết , cái đám phản quốc ấy chết là đáng kiếp ! Tao mà gặp nó giờ tao cũng cho nó 1 viên vào óc ! "

Sau đó gia đình Nhi cũng đi ra nước ngoài nên không còn biết tin tức về bà Thu . Vài năm trước đây , chị Hai của Nhi theo phái đoàn dạy ngoại ngữ có về Việt Nam . Chị tìm đến nhà thăm thì mới biết bà đã mất lâu rồi . Ông Tuấn sau khi ra tù , về nhà thì con chết , vợ điên . Ông sống âm thầm làm nghề đạp xích lô nuôi vợ . Sau khi vợ mất ông đi đâu không ai biết . Căn nhà thì phường đã trưng dụng làm văn phòng . Bây giờ có người khác vào ở .

Đã mấy chục năm trôi qua , Nhi vẫn không quên được chị Trang . Nhiều lúc Nhi nghĩ , biết đâu chị còn sống ? Biết đâu hải tặc bắt rồi sẽ thả chị ra ? Hồng nhan bạc phận . Mỗi lần nhớ về chị là Nhi lại thấy xót xa . Xót xa không chỉ cho số phận đau thương của chị mà cho cả hàng triệu đồng bào miền Nam phải chịu biết bao oan trái tù đày tang tóc sau cái ngày 30-04 bị " giải phóng " bởi quân Việt cộng .

Trên khắp giải đất hình chữ S đẫm nước mắt này , đâu chỉ có 1 chị Trang , mà có hàng triệu hàng triệu những câu chuyện tang thương đầy nước mắt như thế !

Vì ai ??

Giải phóng miền Nam là như vậy đó ! Đừng hỏi tại sao người ta căm thù !!

(Hình: minh hoạ)

FB Ngoc Nhi Nguyen

CÒN ĐÓ NHỮNG BI THƯƠNG

 

Điều đáng buồn nhất là chúng ta cứ mãi loanh quanh với những khúc cua của lịch sử, những góc khuất không được soi rọi thẳng vào để làm sáng tỏ với các thế hệ và sự thật như nó vốn thuộc về, người ta cứ làm cho mọi thứ ngày càng tệ hơn vì sự ích kỷ đến tàn nhẫn của mình. Ai cũng nói về nỗi đau chiến tranh, về mất mát đau thương lớn lao, về những đổ nát hoang tàn, về những sinh hy máu xương, về ly tán chia biệt, về hậu quả tàn khốc sau đó, nhưng không mấy ai chịu bình tâm nhìn lại thực sự một cách đầy đủ về tất cả những gì nó đã diễn ra và những gì mà chính những người trong cuộc còn chưa đồng cảm được với nhau.

Lịch sử vẫn còn quá nhiều những day dứt và diễn cảnh đứt đoạn, với những tiếng oán ai suốt bao năm vẫn còn chưa được giải hoà hay làm lành lặn lại.

Thử hỏi rằng, vào ngày mai, những người Sài Gòn xưa kia và những người đang tha hương nhiều nơi viễn xứ, khi nghe về những bản nhạc ca ngợi chiến thắng vào tháng 4 năm 1975, bước trên phố hay ngồi nghe những âm vọng truyền thanh trên chiếc ô tô, với những giọng hát, lời ca rền vang đầy hân hoan và hùng tráng, chắc hẳn là sẽ có nhiều triệu người hoặc là sẽ chết lặng, hoặc vẫn còn bật khóc như mấy chục năm về trước trong những đớn đau. Bao nhiêu những thảm cảnh và những nỗi kinh sợ, hãi hùng lại vẫn hiện về trong tâm trí họ như cũ. Không chắc là họ đã muốn nghe đến những hồi ức về cuộc chiến và cả những thời khắc hậu chiến liền sau đó nữa.

Trong những vụ án chính trị với tội danh Tuyên truyền chống nhà nước, thường thì những người bị cáo buộc bị truy tố là do họ đã có những bài viết bình luận hoặc đưa ra quan điểm theo góc nhìn cá nhân về chiến thắng mùa xuân năm 1975 với những cảm nghĩ tự thân, bằng những tâm tình rất mực chân thành và xót xa, họ đều đã bị xét xử vì đã coi “chiến thắng lịch sử vĩ đại” ấy là “cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn” hay gọi tháng 4 đó là “tháng tư đen”. Những tâm can và niềm thương cảm dành cho lịch sử lại bị luận tội và bị đưa ra xét xử với các cáo buộc rất đanh thép: “phủ nhận giá trị công cuộc cách mạng giải phóng của dân tộc ta” hoặc là “đã xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử hào hùng của đất nước”. Và trong những phiên toà đó, tôi thường trích lại lời của ông Võ Văn Kiệt, cố Thủ tướng chính phủ Việt Nam, để làm dẫn cứ bảo vệ cho những người bị buộc tội hết sức vô lý và lạ lùng này.

Lịch sử chỉ đơn giản là những sự kiện đã xảy ra vào một khoảng không thời gian nào đó trong quá khứ, nó có thể tươi đẹp nhưng cũng có thể tàn khốc, nó có thể hàm chứa những giá trị nhưng cũng có thể chất đầy những bi ai, nó có thể được nhìn nhận từ nhiều góc cạnh của không chỉ những người trong cuộc chiến hay là từ những cứ liệu liên quan được tìm thấy và trưng ra, nhưng như ai đó đã nói: trong chiến tranh, không có gì là sự thật duy nhất. Bởi vậy, hãy trung thực nhìn vào tất cả những gì mà bản thân nó cần được nhìn nhận như thế và phải là như vậy ngay từ lúc đầu tiên mà nó xảy đến.

Đó là cách duy nhất để chúng ta có thể hàn gắn, trưởng thành và nhờ đó mới có thể làm cho dân tộc trở nên văn minh và cường thịnh hơn được.

FB Luân Lê

MỘT CÁCH HIỂU VỀ CHIẾN DỊCH ĐỐT LÒ CỦA ÔNG TRỌNG

LỬA TỪ ĐÂU ĐẾN?

Hai năm qua kể từ sau Đại hội, nhân vật nổi bật nhất trên chính trường Việt Nam không ai khác chính là Nguyễn Phú Trọng.

Màn đốt lò của ông là chiến dịch chính trị đáng chú ý nhất trong nội bộ đảng cầm quyền vài ba thập kỷ trở lại đây, chẳng những đã thiêu rụi sinh mệnh chính trị của hàng chục cán bộ, tướng tá cao cấp, mà lúc đạt nhiệt độ cao nhất thậm chí còn hóa củi một đương kim ủy viên Bộ Chính trị.

Trong khi các nhà quan sát có thể nhanh chóng đồng thuận về mức độ chưa có tiền lệ của chiến dịch chính trị này, không dễ để có được tiếng nói chung về động cơ và viễn cảnh của nó.

Không ít người tin rằng mục tiêu hàng đầu của chiến dịch là chống tham nhũng, theo đúng cách mà ông Trọng muốn dư luận nhìn nhận. Tuy nhiên, chẳng cần là quan chức chính quyền để nhận ra tham nhũng ở Việt Nam đặc thù cho hệ thống chính trị thiếu vắng kiềm chế và đối trọng hiện hành và được biện minh như là giải pháp cho một chế độ lương bổng bất hợp lý; bởi vậy, sẽ chẳng thể nào có chuyển biến chỉ bằng việc bỏ vài thanh củi vào lò, trong khi những nguyên nhân căn bản tạo ra quá trình “củi hóa” trên diện rộng vẫn chưa được giải quyết.

Ngay cả khi có nghe được những lời tán dương trong nội bộ, hơn ai hết, ông Trọng thừa hiểu đa phần những đồng chí đang tung hô và đứng về phía ông trong chiến dịch gọi là chống tham nhũng này - các đảng viên cao cấp - đều vượt tiêu chuẩn trở thành đối tượng của chính chiến dịch. Việc họ chọn chỗ đứng như thế đơn giản chỉ vì ‘ở đời phù thịnh chứ ai phù suy’, còn ông Trọng, như bao chính khách khác, luôn cần đồng minh cho chiến dịch chính trị của mình.

Nhưng không phải vì thế mà có thể cho rằng ông Trọng giống đa số những đồng chí cùng thời với ông, tức là chỉ đang tìm kiếm lợi ích kim tiền cho cá nhân, gia đình và phe nhóm của mình. Ngay những người hồ nghi nhất cũng khó có thể tin là ông Trọng đang làm mọi thứ vì tiền bạc, trong khi chẳng có dấu hiệu gì dù là nhỏ nhất cho thấy ông đang sắp đặt một vương triều cho thân nhân tiếp quản.

Chuyện thâu tóm quyền lực để ôm ghế suốt đời như Tập Cận Bình lại càng xa lạ với thực tế chính trị Việt Nam khi mà bộ máy được thiết kế để chẳng ai có đủ quyền để làm điều gì đó lớn, như là kết quả từ cơn ám ảnh chưa bao giờ dứt về bóng ma Gorbachez trong lòng người cộng sản Việt Nam.

Cũng có nhiều đồn đoán chiến dịch của ông Trọng nhắm trực tiếp vào cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và mạng lưới thân tín của ông ta, song thực tế chiến dịch cho thấy phạm vi, tính chất của nó chẳng hề giới hạn nơi một cá nhân cụ thể nào.

Vậy thì động lực thực sự của chiến dịch là gì? Hay nói cách khác, lửa đốt lò từ đâu mà đến?

NGOÀI ĐẢNG CHẲNG CÓ TRỜI

Để trả lời câu hỏi trên, trước tiên cần một nỗ lực phác thảo chân dung ông Trọng. Không khó để nhận ra qua các bài viết, bài nói và cả hành động của ông Trọng một cán bộ quan liêu cộng sản kiểu cũ điển hình - một kiểu người mà ngoài Đảng ra thì không có trời.

Đắm chìm cả đời trong phương pháp luật mác-xít về chính trị, nhãn quan chính trị của ông Trọng bị kẹt trong trật tự kiểu cũ của thể chế cộng sản, nơi mà “sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng” được diễn dịch là “sự lãnh đạo tuyệt đối của hệ thống quan liêu trong Đảng - tức các thiết chế nội bộ Đảng như các Ban đảng” (có thể tạm gọi là “Phe Đảng”). Trật tự này gắn liền với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nơi chỉ thị và nghị quyết của cấp ủy đảng là công cụ điều hành xã hội chính yếu, và đồng nghĩa với đó, các Ban đảng trở thành nơi tập trung quyền lực của hệ thống.

Tất cả đã khác đi khi Việt Nam bắt đầu chuyển đổi mô hình sang kinh tế thị trường (một phần), dẫn đến nhu cầu quản lý kinh tế - xã hội bằng pháp luật. Mà muốn thế thì vai trò của các cơ cấu tạo ra và thi hành pháp luật trở nên ngày một quan trọng. Từ Võ Văn Kiệt đến Phan Văn Khải đã chứng kiến sự chuyển dịch quyền lực từ Văn phòng Trung ương Đảng sang Văn phòng Chính phủ. Quá trình chuyển dịch này đạt cao điểm dưới thời Nguyễn Tấn Dũng khi hàng loạt Ban Đảng đã phải giải thể hoặc sáp nhập.

Phe Chính phủ bằng cách đó đã hình thành và lớn mạnh bằng một tốc độ gây chóng mặt Phe Đảng. Họ chiếm cứ lợi ích kim tiền gắn liền với vai trò quản lý nguồn lực quốc gia mà họ được giao phó, chỉ nhường lại Phe Đảng những trận địa truyền thống bao gồm nhân sự, tổ chức bộ máy và tuyên truyền. Thậm chí, dưới thời Nguyễn Tấn Dũng, Phe Chính phủ còn không ít lần lấn sân cả sang cả những trận địa này.

Sự suy yếu của Phe Đảng ngay lập tức gia tăng mức độ ly khai của các cơ cấu khác khỏi vòng kiềm tỏa của nó, trong đó nổi bật lên là Phe Công an, Phe Quân đội và Thế lực địa phương với động lực đến từ xung đột cấu trúc (structural conflict) cố hữu cộng với mức độ tự chủ nhất định của các thế lực ly khai, nhất là về mặt tài chính.

Nếu xu hướng này tiếp tục, trật tự kiểu cũ của thể chế cộng sản như nó nên là trong nhãn quan Nguyễn Phú Trọng chắc chắn sẽ sụp đổ. Bởi thế, chẳng phải tham nhũng, cũng không hề là một cá nhân cụ thể, hay động lực kim tiền, mà chính nguy cỡ đổ vỡ trật tự khi mà các cơ cấu ly khai khỏi vòng kiềm tỏa của Phe Đảng, mới đích thị là mối bận tâm lớn nhất của ông Trọng khi người bôn-sê-vích cuối cùng của Việt Nam này tin rằng ông đang mang trọng trách bằng mọi giá phải giữ cho Đảng được trường tồn.

BỐN HƯỚNG TẤN CÔNG

Không cần đợi đến Đại Hội XII, ông Trọng, trong vài năm trước đó, đã có những động thái nhằm tái lập trật tự: Chuyển Ban Chỉ đạo Phòng Chống Tham nhũng từ Chính phủ sang Đảng, tái lập Ban Nội chính và Ban Kinh tế TW, trước khi dùng lá bài luân chuyển cán bộ đưa hàng chục Ủy viên TW là Bí thư các tỉnh thành về củng cố quyền lực cho các Ban Đảng.

Tuy nhiên, phải đến sau Đại Hội với sự thúc thủ của đối thủ chính trị nguy hiểm nhất, ông Trọng mới rảnh tay để thực hiện những bước đi chiến lược. Là bậc thầy về quy chế Đảng, ông Trọng dễ dàng có được sự đồng thuận của BCHTW đối với các nghị quyết khẳng định quyền lực tối cao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư với sinh mệnh chính trị của tất cả đảng viên cao cấp. BCHTW, dưới quy chế mới, sẽ chẳng thể nào làm phao cứu sinh thêm được nữa cho những cán bộ đã bị Bộ Chính trị quyết định kỷ luật, như từng xảy ra với Nguyễn Tấn Dũng trong nhiệm kỳ trước đây.

Sắp xếp quy chế nội bộ chưa đủ, ông Trọng còn phải tiến hành những đợt tấn công ra bên ngoài để thu phục các thế lực ly khai. Có 4 hướng tiến công chính:

Đầu tiên để kiểm soát Phe Chính phủ vốn được coi là nguy hiểm nhất, ông ủng hộ một người mà ông tin là dễ bảo nhất - Nguyễn Xuân Phúc. Để an tâm hơn, ông trực tiếp tham gia Phiên họp Chính phủ thường kỳ trong một động thái có tính biểu tượng, đồng thời tước quyền của Thủ tướng trong việc bổ nhiệm lãnh đạo các Tập đoàn nhà nước, chuyển về cho Phe Đảng.

Tiếp theo ông nhắm vào các thế lực địa phương được coi là cứng đầu nhất (nhiều lần bất tuân trung ương), bao gồm Đà Nẵng và TPHCM, đào xới tận gốc rễ mạng lưới cố kết quyền lực tại từng địa phương này nhằm gửi thông điệp tới các địa phương khác.

Hai thế lực Công an và Quân đội chắc chắn khiến ông Trọng nhức đầu hơn rất nhiều, đơn giản là cả hai đều có súng. Bởi thế, đầu tiên ông dọa hất đổ nồi cơm của Quân đội bằng cách nói gần nói xa về việc cấm làm kinh tế. Tuy nhiên đây chỉ là đòn gió để thu phục Phe Súng Lớn, để rồi sau đó dùng nó để tấn công Phe Súng Bé - Công an.

Đối với Phe Súng Bé, một mặt ông tham gia Đảng ủy Công an Trung ương để dễ bề kiểm soát từ nhân sự, tổ chức cho tới vận hành, mặt khác tấn công ngay vào mạng lưới kinh tài của họ - các công ty bình phong. Mất chỗ dựa tài chính, việc các tướng công an phải quy phục Phe Đảng chỉ còn là vấn đề thời gian.

Chưa có dấu hiệu gì cho thấy 4 hướng tấn công này sẽ sớm ngưng lại, nghĩa là, nhiều khả năng sẽ tiếp tục ít nhất đến hết nhiệm kỳ này. Riêng Phe Súng Lớn - Quân đội, trong nửa nhiệm kỳ đầu, vì nhiều lý do mà chưa bị nhắm đến nhiều dù nguy cơ và mức độ ly khai chẳng hề kém cạnh Phe Công an, được dự đoán sẽ chứng kiến nhiều đợt tấn công hơn, với nhiều hơn những tướng tá bị đưa vào lò.

VẤN ĐỀ ‘HÔN QUÂN’

Tóm lại, trong một thời gian không quá dài, bằng việc âm thầm cải sửa quy chế nội bộ lẫn dồn dập tiến công chính trị theo 4 hướng trên, ông Trọng đã tương đối thành công trong việc ngăn chặn xu hướng ly khai của các thế lực cơ cấu trong hệ thống, đồng thời từng bước tái lập trật tự kiểu cũ với Phe Đảng làm trung tâm. Tuy nhiên thành công này lại tiềm ẩn bên trong một thất bại nghiêm trọng: Đã chẳng có bất kỳ cải cách đột phá nào về mặt thể chế nhằm chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả trong khi vẫn giữ được vị thế độc tôn của đảng. Điều này buộc ông Trọng phải quay về với giải pháp lỗi thời là kêu gọi đức trị và tự mình, dựa trên thanh danh bản thân, sắm vai minh quân với một mức độ tập trung quyền lực cao hơn.

Nhưng đó cũng là lúc ông Trọng lót đường cho một cuộc khủng hoảng người kế nhiệm trong hơn hai năm tới, khi mà chiếc áo đức trị ông để lại có vẻ quá rộng với tất cả các ứng viên, còn quyền lực của vị trí Tổng Bí thư thì lại không ngừng được mở rộng trong suốt nhiệm kỳ.

Nghĩa là, vấn đề ‘hôn quân’ (‘bad emperor’ problem) - vấn đề cốt tử của mọi nền chính trị thiếu vắng bầu cử tự do dân chủ, sẽ nhanh chóng xuất hiện với những hệ quả chưa thể báo trước.

FB Nguyen Anh Tuan

Sau 43 năm có thể "hoà hợp hoà giải dân tộc" ?

Cuộc chiến Việt Nam kết thúc ngày 30/04/1975, đến hôm nay đã tròn 43 năm.

Sau ngày tháng tư đen gãy súng đó, đất nước thống nhất về mặt địa lý. Một năm sau đó là sự thống nhất về mặt nhà nước. Nhưng sau 43 năm, nhân tâm vẫn chưa thống nhất. 

Bốn mươi ba năm đã trôi qua, nhưng hàng năm mỗi khi đến ngày này người Việt ở khắp nơi trên thế giới vẫn tiếp tục có những tranh luận về vấn đề này: Đây là một cuộc nội chiến hay là cuộc chiến tranh ý thức hệ? Ai thắng ai thua? Để thống nhất đất nước có cần phải có cuộc chiến đổ máu kéo dài hơn hai mươi năm trời như thế không?.... Rất nhiều câu hỏi đặt ra mà câu trả lời vẫn còn bỏ ngõ. 

Nội chiến ư? Đúng vậy. Chiến tranh ý thức hệ ư? Chẳng sai. Và cuộc nội chiến mang tính tranh chấp của hai hệ ý thức tư tưởng này có lẽ là cuộc chiến hiếm hoi trên thế giới mà hậu quả của nó kéo dài đến thế. Viết đến đây, tôi chợt nghĩ đến cuộc họp thượng đỉnh liên Triều hôm 27/04. Giá mà hai miền Việt Nam trước đây có một cuộc họp thượng đỉnh tương tự, sẽ ít có máu đổ đầu rơi hơn.

Sự thống nhất của nước Đức từ 2 khối đối lập nhau hoàn toàn về ý thức hệ, hệ thống chính trị, mô hình quản lý kinh tế... cũng là một ví dụ đẹp về sự thống nhất đất nước không cần chiến tranh đổ máu.

Những đau thương mất mát của cuộc chiến và những hệ lụy thời hậu chiến trong quan hệ đối xử giữa kẻ thắng - người thua trong những năm tiếp sau đó đã để lại những di chứng khủng khiếp. Những kỷ niệm khó quên của một thời mà những người đồng bào đối xử với nhau như kẻ thù với những định kiến về chính trị và giai cấp, với những kỷ niệm đau thương khó quên về những năm tháng học tập cải tạo đầy máu và nước mắt, chiến dịch cải tạo tư sản, phong trào xua dân đi kinh tế mới, những đợt vượt biên tị nạn kinh hoàng, những phân biệt đối xử, những ánh mắt cú vọ, những bản sơ yếu lý lịch khai đi viết lại ... Phải chăng những chuyện đau lòng đó là những tảng đá lớn chắn đường, gây ngăn cách nhân tâm? Những người “chiến thắng” sau năm 1975 đã tiến hành tái thiết đất nước trên cơ sở của lòng hận thù giai cấp và bạo lực cưỡng chế, để lại những vết thương khó lành và những ký ức kinh hoàng trong tâm trí nhiều người từng ở khác chiến tuyến với họ.

Bốn mươi ba năm trôi qua, vẫn còn đó những khắc khoải không nguôi, những vết thương lòng chưa khép, những sự kỳ thị phân biệt vẫn còn. Hàng năm đến ngày này, chính quyền vẫn nhắc đến chuyện hòa giải hòa hợp nhưng tất cả cũng chỉ dừng lại ở những lời kêu gọi chung chung. Những hành động thực chất mang tính hoà giải và hàn gắn với những người đồng bào một thời đứng bên kia chiến tuyến dường như còn hiếm hoi lắm. Người ta nhắc đến chuyện hòa giải hòa hợp dân tộc nhưng vẫn muốn áp đặt lên toàn xã hội sự thống trị độc tôn của một hệ ý thức giáo điều cũ kỹ lỗi thời. 

Vẫn còn đó những khó khăn khi người ta vẫn đang cố gắng biện minh bằng mọi lý lẽ về những kỷ niệm một thời kỳ khốn khó và đau thương nhằm né tránh sự thật phũ phàng về tình người và nghĩa đồng bào giữa những người từng đứng 2 bên chiến tuyến sau khi tàn cuộc chiến.

Vẫn còn đó những khó khăn khi người ta chỉ chấp nhận vị trí độc tôn của tiếng nói người thắng cuộc và chưa chịu lắng nghe những tiếng nói trái chiều. 

Con đường hòa giải hòa hợp dân tộc xem ra còn chông gai lắm.

FB Lê Quang Huy

CHIẾN TRANH VIỆT NAM CÓ THỰC SỰ CẦN THIẾT?

Liên quan đến biến cố 30 tháng Tư 1975, có một câu nói của một quan sát viên quốc tế mà tôi rất tâm đắc:
“Không có ai chiến thắng cả. Tất cả đều là nạn nhân”
(There were no winners, only victims).

Nhưng tại sao lại không có người chiến thắng?

Trước hết, không còn hoài nghi gì nữa, người miền Nam chắc chắn là những người thua cuộc và từ đó, trở thành những nạn nhân không những của chiến tranh mà còn của hòa bình với hàng trăm ngàn người bị bắt đi cải tạo, hàng triệu người liều mạng vượt biển để tìm tự do và hầu như tất cả đều sống trong cảnh vừa lầm than vừa bị áp bức.

Mỹ cũng không phải là những kẻ chiến thắng. Nói cho đúng, họ thắng trong cuộc chiến tranh lạnh với khối Xã Hội Chủ Nghĩa bằng việc phân hóa Trung Quốc và Liên Xô, đồng thời bằng cách vô hiệu hóa hiệu ứng liên hoàn, gắn liền với thuyết domino vốn là nguyên nhân chính khiến họ tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Về phương diện quân sự, họ (Mỹ) không thắng không bại: họ đã rút quân ra khỏi Việt Nam mấy năm trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt (rút hết vào 29/03/1973). Tuy nhiên, về phương diện chính trị, họ đã thất bại trong nỗ lực bảo vệ một đồng minh là chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam. Sau đó, về phương diện tâm lý, họ là những nạn nhân với hội chứng Việt Nam, một ám ảnh đầy day dứt trong lương tâm của những người từng tham chiến. Đó là chưa kể hơn 58.000 người lính bỏ mình tại Việt Nam cũng như hàng mấy trăm ngàn người bị thương tật trở thành một gánh nặng trong xã hội Mỹ.

Thế còn miền Bắc?

Đương nhiên họ là những người thắng cuộc. Thắng về quân sự: đánh bại được quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Thắng về chính trị: thống nhất được đất nước sau 20 năm chia cắt.

Tuy nhiên, bên cạnh những chiến thắng ấy, họ cũng gánh chịu không ít thất bại. Những thất bại ấy làm cho chiến thắng của họ trở thành một tai hoạ cho mọi người.

Trước hết, như là hệ quả của việc chà đạp lên hiệp định Paris 1973, xua quân cưỡng chiếm miền Nam, Việt Nam phải gánh chịu sự cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Trừ Liên Xô và khối Xã Hội Chủ Nghĩa, họ không có một người bạn nào cả. Ngay cả với một nước đồng minh thân cận từng giúp đỡ họ cả mấy chục năm - Trung Quốc - cũng biến thành kẻ thù với hậu quả là, ngay sau chiến tranh Nam - Bắc chấm dứt, Việt Nam phải chịu đựng thêm hai cuộc chiến tranh mới: chiến tranh với Campuchia và chiến tranh với Trung Quốc.

Hệ quả của tất cả những điều vừa nêu là, về phương diện kinh tế, Việt Nam hoàn toàn kiệt quệ. Lạm phát tăng nhanh; nạn đói lúc nào cũng lởn vởn trước mắt mọi người. Trong nhiều năm, ngay cả lúa gạo - nguồn thực phẩm chính và cũng là điểm mạnh của miền Nam - cũng bị thiếu hụt nghiêm trọng. Dân chúng phải thường xuyên ăn độn hoặc ăn bo bo để thay thế cơm. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó và chậm phát triển nhất thế giới.

Về phương diện xã hội, hầu như mọi người đều bị lâm vào cảnh khốn cùng. Mâu thuẫn giữa hai miền Nam và Bắc càng lúc càng sâu sắc. Sự thống nhất chỉ có trên phương diện chính trị và hành chính, nhưng về tâm lý, nhìn nhau, dân chúng giữa hai miền vẫn đầy những nghi kỵ và đố kỵ.

Về phương diện chính trị, dân chúng không còn chút tự do nào cả. Tự do tư tưởng: Không! Tự do ngôn luận: Không! Tự do cư trú và tự do đi lại: Không! Tất cả các quyền tự do căn bản của dân chủ, từ tự do hội họp đến tự do thành lập và tham gia vào đảng phái đều bị tước sạch.

Có thể nói, trong hơn mười năm, từ 1975 đến 1985, trước khi phong trào đổi mới xuất hiện, ở Việt Nam, dân chúng trong cả nước đều chia sẻ nỗi bất hạnh chung xuất phát từ việc miền Bắc thắng miền Nam. Không có gì quá đáng nếu chúng ta nói: trừ giới lãnh đạo cộng sản, còn lại tất cả mọi người đều là nạn nhân của biến cố 30 tháng Tư 1975.

Không phải chỉ những người bị bắt đi học tập cải tạo hoặc bị lùa đi “kinh tế mới” mới là nạn nhân: Tất cả mọi người đều là nạn nhân.

Không phải chỉ những người bị bỏ mình trên biển mới là nạn nhân; Ngay cả những người may mắn vượt thoát và được định cư ở nước ngoài cũng là nạn nhân: họ phải xa lìa tổ quốc để sống tha hương, không lúc nào nguôi ngoai nỗi khắc khoải trông ngóng về đất nước cũ.

Nhưng nếu mọi người đều là nạn nhân, cuộc chiến tranh Nam Bắc vốn kéo dài hai mươi năm có thực sự cần thiết hay không?

Bộ máy tuyên truyền của miền Bắc trước năm 1975 cũng như trong cả nước sau năm 1975 nêu lên ba lý do chính tại sao miền Bắc phát động cuộc chiến tranh ấy: Một, để giải phóng miền Nam; Hai, để phát triển Chủ Nghĩa Xã Hội sang nửa phần lãnh thổ còn chịu khổ nạn dưới ách “áp bức” của Mỹ và “Nguỵ”; và Ba, để đánh bại sự “xâm lược” của “đế quốc” Mỹ.

Xin nói về nguyên nhân thứ ba trước. Đó chỉ là một nguỵ biện. Việc Mỹ đổ cả nửa triệu quân vào miền Nam chỉ là để giúp miền Nam chống lại sự xâm lấn của miền Bắc. Như vậy, nó chỉ là hậu quả chứ không phải là nguyên nhân. Nói cách khác, nếu miền Bắc không mưu toan đánh chiếm miền Nam, chả có lý do gì để Mỹ đổ quân vào miền Nam cả!

Về nguyên nhân thứ hai, người ta dễ dàng nhận thấy là hoàn toàn không chính đáng. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước cộng sản tại Đông Âu, hầu như ai cũng biết Chủ Nghĩa Xã Hội đồng nghĩa với áp bức và nghèo đói. Mở rộng Chủ Nghĩa Xã Hội từ miền Bắc sang miền Nam, do đó, thực chất là việc xuất cảng áp bức và nghèo đói từ miền bắc vào miền nam. Đó là một tai họa.

Chỉ có nguyên nhân thứ nhất là cần phân tích kỹ. Trước hết, không ai có thể phủ nhận sự cần thiết của việc thống nhất đất nước, một di sản của tổ tiên từ ngàn đời trước. Đó là một mệnh lệnh của lịch sử, của đạo lý và của tình cảm. Tuy nhiên, vấn đề là: sự thống nhất ấy có thể được thực hiện bằng cách nào và được trả bằng giá nào? Nó có cần thiết để cả nước phải trải qua hai chục năm chiến tranh tàn khốc với trên ba triệu người bị giết chết?

Lịch sử cung cấp hai bài học chính: Thứ nhất, Đông Đức và Tây Đức đã được thống nhất mà không cần phải trải qua cuộc chiến tranh nào cả. Thứ hai, Nam và Bắc Triều Tiên đến nay vẫn bị chia cắt. Nhưng sự chia cắt ấy được đền bù bằng mức phát triển cực nhanh và cực cao của Nam Triều Tiên. Sự thống nhất không sớm thì muộn, không bằng cách này thì bằng cách khác cũng sẽ xảy ra, nhưng khi nó xảy ra, Đại Hàn cũng đã có một nền tảng kinh tế và chính trị vững chắc là Nam Triều Tiên (như trường hợp của Tây Đức và Đông Đức). Ở đây, sự chia cắt không có gì đáng phàn nàn hay ân hận cả.

Chúng ta tưởng tượng: nếu miền Bắc đừng phát động chiến tranh thì tình hình chính trị Việt Nam hiện nay sẽ ra sao? Thì tất cả những tai hoạ nêu lên ở phần đầu bài viết này sẽ không có. Thì cả hai miền sẽ có hòa bình và nhờ hòa bình, sẽ được phát triển nhanh chóng.

Ngay cả khi hai miền Nam và Bắc chưa được thống nhất thì, tuy về phương diện tình cảm, vẫn là một nỗi nhức nhối, nhưng trên mọi phương diện khác, đó lại là một điều may mắn.

Nguyễn Hưng Quốc/VOA

Làm sao có thể nguôi ngoai ngày 30/4/1975?

Không khí thanh bình của miền quê yên tĩnh một buổi sớm cuối tháng 4 như bị phá tan bởi những lời bài hát đầy hận thù “Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù...”, “Thù giặc Mỹ với lũ bán nước, ta quyết xuống đường hoà cùng dòng người...” không ngừng phát ra từ chiếc loa phát thanh xã suốt từ 5 giờ sáng cho đến khi mặt trời lên cao. Vị đắng của tách cà phê sáng như đọng lại mãi trên môi.

Điều gì khiến cho lòng hận thù cứ cháy mãi như vậy sau gần nửa thế kỷ đất nước im tiếng súng? Làm sao mà hoà giải hoà hợp dân tộc được khi mà người ta cứ luôn nhắc đến chuyện “hận thù”, “địch - ta”, “nguỵ quân nguỵ quyền”... như vậy? Đến bao giờ người ta mới thôi tụng ca chiến thắng của một cuộc chiến tranh không cần có, dẫn đến núi xương sông máu và những hệ luỵ và di hại nặng nề thời hậu chiến?

“Không thể xây dựng một đất nước trên cơ sở của lòng hận thù và bạo lực”. Nelson Mandela đã bước vào công cuộc tái thiết đất nước bị tàn phá bởi chủ nghĩa Apartheid vô nhân đạo trên một triết lý nhân bản và cao thượng như vậy. Hai nước CHLB Đức và CHDC Đức với hai ý thức hệ đối lập, hai hệ thống chính trị thù địch và hai nền kinh tế phát triển lệch nhau đã thống nhất một cách hoà bình phi bạo lực. Đáng tiếc là những người lãnh đạo Việt Nam phía bắc vĩ tuyến 17 đã chọn con đường chiến tranh bạo lực và phân biệt đối xử sau đó, dẫn đến chia rẽ nhân tâm nặng nề sau bao nhiêu mất mát về máu xương mà đến nay vẫn chưa hàn gắn được.

FB Lê Quang Huy