30/4/1975

  • Sau 43 năm có thể "hoà hợp hoà giải dân tộc" ?

    Cuộc chiến Việt Nam kết thúc ngày 30/04/1975, đến hôm nay đã tròn 43 năm.

    Sau ngày tháng tư đen gãy súng đó, đất nước thống nhất về mặt địa lý. Một năm sau đó là sự thống nhất về mặt nhà nước. Nhưng sau 43 năm, nhân tâm vẫn chưa thống nhất.

    Bốn mươi ba năm đã trôi qua, nhưng hàng năm mỗi khi đến ngày này người Việt ở khắp nơi trên thế giới vẫn tiếp tục có những tranh luận về vấn đề này: Đây là một cuộc nội chiến hay là cuộc chiến tranh ý thức hệ? Ai thắng ai thua? Để thống nhất đất nước có cần phải có cuộc chiến đổ máu kéo dài hơn hai mươi năm trời như thế không?.... Rất nhiều câu hỏi đặt ra mà câu trả lời vẫn còn bỏ ngõ.

    Nội chiến ư? Đúng vậy. Chiến tranh ý thức hệ ư? Chẳng sai. Và cuộc nội chiến mang tính tranh chấp của hai hệ ý thức tư tưởng này có lẽ là cuộc chiến hiếm hoi trên thế giới mà hậu quả của nó kéo dài đến thế. Viết đến đây, tôi chợt nghĩ đến cuộc họp thượng đỉnh liên Triều hôm 27/04. Giá mà hai miền Việt Nam trước đây có một cuộc họp thượng đỉnh tương tự, sẽ ít có máu đổ đầu rơi hơn.

    Sự thống nhất của nước Đức từ 2 khối đối lập nhau hoàn toàn về ý thức hệ, hệ thống chính trị, mô hình quản lý kinh tế... cũng là một ví dụ đẹp về sự thống nhất đất nước không cần chiến tranh đổ máu.

    Những đau thương mất mát của cuộc chiến và những hệ lụy thời hậu chiến trong quan hệ đối xử giữa kẻ thắng - người thua trong những năm tiếp sau đó đã để lại những di chứng khủng khiếp. Những kỷ niệm khó quên của một thời mà những người đồng bào đối xử với nhau như kẻ thù với những định kiến về chính trị và giai cấp, với những kỷ niệm đau thương khó quên về những năm tháng học tập cải tạo đầy máu và nước mắt, chiến dịch cải tạo tư sản, phong trào xua dân đi kinh tế mới, những đợt vượt biên tị nạn kinh hoàng, những phân biệt đối xử, những ánh mắt cú vọ, những bản sơ yếu lý lịch khai đi viết lại ... Phải chăng những chuyện đau lòng đó là những tảng đá lớn chắn đường, gây ngăn cách nhân tâm? Những người “chiến thắng” sau năm 1975 đã tiến hành tái thiết đất nước trên cơ sở của lòng hận thù giai cấp và bạo lực cưỡng chế, để lại những vết thương khó lành và những ký ức kinh hoàng trong tâm trí nhiều người từng ở khác chiến tuyến với họ.

    Bốn mươi ba năm trôi qua, vẫn còn đó những khắc khoải không nguôi, những vết thương lòng chưa khép, những sự kỳ thị phân biệt vẫn còn. Hàng năm đến ngày này, chính quyền vẫn nhắc đến chuyện hòa giải hòa hợp nhưng tất cả cũng chỉ dừng lại ở những lời kêu gọi chung chung. Những hành động thực chất mang tính hoà giải và hàn gắn với những người đồng bào một thời đứng bên kia chiến tuyến dường như còn hiếm hoi lắm. Người ta nhắc đến chuyện hòa giải hòa hợp dân tộc nhưng vẫn muốn áp đặt lên toàn xã hội sự thống trị độc tôn của một hệ ý thức giáo điều cũ kỹ lỗi thời.

    Vẫn còn đó những khó khăn khi người ta vẫn đang cố gắng biện minh bằng mọi lý lẽ về những kỷ niệm một thời kỳ khốn khó và đau thương nhằm né tránh sự thật phũ phàng về tình người và nghĩa đồng bào giữa những người từng đứng 2 bên chiến tuyến sau khi tàn cuộc chiến.

    Vẫn còn đó những khó khăn khi người ta chỉ chấp nhận vị trí độc tôn của tiếng nói người thắng cuộc và chưa chịu lắng nghe những tiếng nói trái chiều.

    Con đường hòa giải hòa hợp dân tộc xem ra còn chông gai lắm.

    FB Lê Quang Huy

  • CHIẾN TRANH VIỆT NAM CÓ THỰC SỰ CẦN THIẾT?

    Liên quan đến biến cố 30 tháng Tư 1975, có một câu nói của một quan sát viên quốc tế mà tôi rất tâm đắc:
    “Không có ai chiến thắng cả. Tất cả đều là nạn nhân”
    (There were no winners, only victims).

    Nhưng tại sao lại không có người chiến thắng?

    Trước hết, không còn hoài nghi gì nữa, người miền Nam chắc chắn là những người thua cuộc và từ đó, trở thành những nạn nhân không những của chiến tranh mà còn của hòa bình với hàng trăm ngàn người bị bắt đi cải tạo, hàng triệu người liều mạng vượt biển để tìm tự do và hầu như tất cả đều sống trong cảnh vừa lầm than vừa bị áp bức.

    Mỹ cũng không phải là những kẻ chiến thắng. Nói cho đúng, họ thắng trong cuộc chiến tranh lạnh với khối Xã Hội Chủ Nghĩa bằng việc phân hóa Trung Quốc và Liên Xô, đồng thời bằng cách vô hiệu hóa hiệu ứng liên hoàn, gắn liền với thuyết domino vốn là nguyên nhân chính khiến họ tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

    Về phương diện quân sự, họ (Mỹ) không thắng không bại: họ đã rút quân ra khỏi Việt Nam mấy năm trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt (rút hết vào 29/03/1973). Tuy nhiên, về phương diện chính trị, họ đã thất bại trong nỗ lực bảo vệ một đồng minh là chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam. Sau đó, về phương diện tâm lý, họ là những nạn nhân với hội chứng Việt Nam, một ám ảnh đầy day dứt trong lương tâm của những người từng tham chiến. Đó là chưa kể hơn 58.000 người lính bỏ mình tại Việt Nam cũng như hàng mấy trăm ngàn người bị thương tật trở thành một gánh nặng trong xã hội Mỹ.

    Thế còn miền Bắc?

    Đương nhiên họ là những người thắng cuộc. Thắng về quân sự: đánh bại được quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Thắng về chính trị: thống nhất được đất nước sau 20 năm chia cắt.

    Tuy nhiên, bên cạnh những chiến thắng ấy, họ cũng gánh chịu không ít thất bại. Những thất bại ấy làm cho chiến thắng của họ trở thành một tai hoạ cho mọi người.

    Trước hết, như là hệ quả của việc chà đạp lên hiệp định Paris 1973, xua quân cưỡng chiếm miền Nam, Việt Nam phải gánh chịu sự cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Trừ Liên Xô và khối Xã Hội Chủ Nghĩa, họ không có một người bạn nào cả. Ngay cả với một nước đồng minh thân cận từng giúp đỡ họ cả mấy chục năm - Trung Quốc - cũng biến thành kẻ thù với hậu quả là, ngay sau chiến tranh Nam - Bắc chấm dứt, Việt Nam phải chịu đựng thêm hai cuộc chiến tranh mới: chiến tranh với Campuchia và chiến tranh với Trung Quốc.

    Hệ quả của tất cả những điều vừa nêu là, về phương diện kinh tế, Việt Nam hoàn toàn kiệt quệ. Lạm phát tăng nhanh; nạn đói lúc nào cũng lởn vởn trước mắt mọi người. Trong nhiều năm, ngay cả lúa gạo - nguồn thực phẩm chính và cũng là điểm mạnh của miền Nam - cũng bị thiếu hụt nghiêm trọng. Dân chúng phải thường xuyên ăn độn hoặc ăn bo bo để thay thế cơm. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó và chậm phát triển nhất thế giới.

    Về phương diện xã hội, hầu như mọi người đều bị lâm vào cảnh khốn cùng. Mâu thuẫn giữa hai miền Nam và Bắc càng lúc càng sâu sắc. Sự thống nhất chỉ có trên phương diện chính trị và hành chính, nhưng về tâm lý, nhìn nhau, dân chúng giữa hai miền vẫn đầy những nghi kỵ và đố kỵ.

    Về phương diện chính trị, dân chúng không còn chút tự do nào cả. Tự do tư tưởng: Không! Tự do ngôn luận: Không! Tự do cư trú và tự do đi lại: Không! Tất cả các quyền tự do căn bản của dân chủ, từ tự do hội họp đến tự do thành lập và tham gia vào đảng phái đều bị tước sạch.

    Có thể nói, trong hơn mười năm, từ 1975 đến 1985, trước khi phong trào đổi mới xuất hiện, ở Việt Nam, dân chúng trong cả nước đều chia sẻ nỗi bất hạnh chung xuất phát từ việc miền Bắc thắng miền Nam. Không có gì quá đáng nếu chúng ta nói: trừ giới lãnh đạo cộng sản, còn lại tất cả mọi người đều là nạn nhân của biến cố 30 tháng Tư 1975.

    Không phải chỉ những người bị bắt đi học tập cải tạo hoặc bị lùa đi “kinh tế mới” mới là nạn nhân: Tất cả mọi người đều là nạn nhân.

    Không phải chỉ những người bị bỏ mình trên biển mới là nạn nhân; Ngay cả những người may mắn vượt thoát và được định cư ở nước ngoài cũng là nạn nhân: họ phải xa lìa tổ quốc để sống tha hương, không lúc nào nguôi ngoai nỗi khắc khoải trông ngóng về đất nước cũ.

    Nhưng nếu mọi người đều là nạn nhân, cuộc chiến tranh Nam Bắc vốn kéo dài hai mươi năm có thực sự cần thiết hay không?

    Bộ máy tuyên truyền của miền Bắc trước năm 1975 cũng như trong cả nước sau năm 1975 nêu lên ba lý do chính tại sao miền Bắc phát động cuộc chiến tranh ấy: Một, để giải phóng miền Nam; Hai, để phát triển Chủ Nghĩa Xã Hội sang nửa phần lãnh thổ còn chịu khổ nạn dưới ách “áp bức” của Mỹ và “Nguỵ”; và Ba, để đánh bại sự “xâm lược” của “đế quốc” Mỹ.

    Xin nói về nguyên nhân thứ ba trước. Đó chỉ là một nguỵ biện. Việc Mỹ đổ cả nửa triệu quân vào miền Nam chỉ là để giúp miền Nam chống lại sự xâm lấn của miền Bắc. Như vậy, nó chỉ là hậu quả chứ không phải là nguyên nhân. Nói cách khác, nếu miền Bắc không mưu toan đánh chiếm miền Nam, chả có lý do gì để Mỹ đổ quân vào miền Nam cả!

    Về nguyên nhân thứ hai, người ta dễ dàng nhận thấy là hoàn toàn không chính đáng. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước cộng sản tại Đông Âu, hầu như ai cũng biết Chủ Nghĩa Xã Hội đồng nghĩa với áp bức và nghèo đói. Mở rộng Chủ Nghĩa Xã Hội từ miền Bắc sang miền Nam, do đó, thực chất là việc xuất cảng áp bức và nghèo đói từ miền bắc vào miền nam. Đó là một tai họa.

    Chỉ có nguyên nhân thứ nhất là cần phân tích kỹ. Trước hết, không ai có thể phủ nhận sự cần thiết của việc thống nhất đất nước, một di sản của tổ tiên từ ngàn đời trước. Đó là một mệnh lệnh của lịch sử, của đạo lý và của tình cảm. Tuy nhiên, vấn đề là: sự thống nhất ấy có thể được thực hiện bằng cách nào và được trả bằng giá nào? Nó có cần thiết để cả nước phải trải qua hai chục năm chiến tranh tàn khốc với trên ba triệu người bị giết chết?

    Lịch sử cung cấp hai bài học chính: Thứ nhất, Đông Đức và Tây Đức đã được thống nhất mà không cần phải trải qua cuộc chiến tranh nào cả. Thứ hai, Nam và Bắc Triều Tiên đến nay vẫn bị chia cắt. Nhưng sự chia cắt ấy được đền bù bằng mức phát triển cực nhanh và cực cao của Nam Triều Tiên. Sự thống nhất không sớm thì muộn, không bằng cách này thì bằng cách khác cũng sẽ xảy ra, nhưng khi nó xảy ra, Đại Hàn cũng đã có một nền tảng kinh tế và chính trị vững chắc là Nam Triều Tiên (như trường hợp của Tây Đức và Đông Đức). Ở đây, sự chia cắt không có gì đáng phàn nàn hay ân hận cả.

    Chúng ta tưởng tượng: nếu miền Bắc đừng phát động chiến tranh thì tình hình chính trị Việt Nam hiện nay sẽ ra sao? Thì tất cả những tai hoạ nêu lên ở phần đầu bài viết này sẽ không có. Thì cả hai miền sẽ có hòa bình và nhờ hòa bình, sẽ được phát triển nhanh chóng.

    Ngay cả khi hai miền Nam và Bắc chưa được thống nhất thì, tuy về phương diện tình cảm, vẫn là một nỗi nhức nhối, nhưng trên mọi phương diện khác, đó lại là một điều may mắn.

    Nguyễn Hưng Quốc/VOA

  • Làm sao để nguôi ngoai ngày 30/4/1975?

    Không khí thanh bình của miền quê yên tĩnh một buổi sớm cuối tháng 4 như bị phá tan bởi những lời bài hát đầy hận thù “Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù...”, “Thù giặc Mỹ với lũ bán nước, ta quyết xuống đường hoà cùng dòng người...” không ngừng phát ra từ chiếc loa phát thanh xã suốt từ 5 giờ sáng cho đến khi mặt trời lên cao. Vị đắng của tách cà phê sáng như đọng lại mãi trên môi.

    Điều gì khiến cho lòng hận thù cứ cháy mãi như vậy sau gần nửa thế kỷ đất nước im tiếng súng? Làm sao mà hoà giải hoà hợp dân tộc được khi mà người ta cứ luôn nhắc đến chuyện “hận thù”, “địch - ta”, “nguỵ quân nguỵ quyền”... như vậy? Đến bao giờ người ta mới thôi tụng ca chiến thắng của một cuộc chiến tranh không cần có, dẫn đến núi xương sông máu và những hệ luỵ và di hại nặng nề thời hậu chiến?

    “Không thể xây dựng một đất nước trên cơ sở của lòng hận thù và bạo lực”. Nelson Mandela đã bước vào công cuộc tái thiết đất nước bị tàn phá bởi chủ nghĩa Apartheid vô nhân đạo trên một triết lý nhân bản và cao thượng như vậy. Hai nước CHLB Đức và CHDC Đức với hai ý thức hệ đối lập, hai hệ thống chính trị thù địch và hai nền kinh tế phát triển lệch nhau đã thống nhất một cách hoà bình phi bạo lực. Đáng tiếc là những người lãnh đạo Việt Nam phía bắc vĩ tuyến 17 đã chọn con đường chiến tranh bạo lực và phân biệt đối xử sau đó, dẫn đến chia rẽ nhân tâm nặng nề sau bao nhiêu mất mát về máu xương mà đến nay vẫn chưa hàn gắn được.

    FB Lê Quang Huy