1 10

Từ Cộng Nô đến Hán Nô

Một trong những yếu tính đặc thù của đảng CSVN là tinh thần nô lệ ngoại bang của tập thể này.

Yếu tính này hình thành từ thủa ban sơ của đảng. Ngay từ giai đoạn chống thực dân Pháp trước 1954, đảng CSVN đã bị lên án là bè lũ “Cộng Nô” bỡi các đảng phái quốc gia thời đó như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt Cách Mạng Đảng, Đại Việt Dân Chính Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng v..v..

Tại sao lại là danh từ bè lũ “Cộng Nô”. Dĩ nhiên chữ “Cộng” là viết tắt chữ cộng sản và “Nô” là viết tắt chữ nô lệ. Toàn chữ “Cộng Nô” là lên án đảng CSVN đã theo đuổi một ý thức hệ ngoại lai đến từ Tây Phương và hoàn toàn không liên hệ gì đến nền văn hóa Đông Á của dân tộc.

Không những toàn đảng đeo đuổi ý thức hệ Mác Lê mà còn mù quáng tôn thờ những thần tượng CS vô cùng tàn ác, đã sát hại hằng triệu sinh linh của chính dân tộc họ như Lê Nin và Stalin nữa. Chính vì thế danh từ “Cộng Nô” sử dụng để lên án đảng CSVN vào giai đoạn đó của lịch sử là hoàn toàn xứng đáng.

Tuy nhiên, từ giai đoạn thập niên 90 sau khi bức tường ô nhục Bá Linh, khối CS Đông Âu, đảng CS Liên Xô sụp đổ và Hiệp Ước Thành Đô được ký kết giữa đảng CSVN và đảng CSTQ vào tháng 9 năm 1990, thì danh từ “Cộng Nô” lại nhường bước cho một danh từ mới mẻ và phản ảnh thực tế hơn. Đó là danh từ “Hán Nô”.

Tại sao dân chúng Việt Nam lại sử dụng danh từ Hán Nô để gán cho đảng CSVN thay vì danh từ Cộng Nô thủa trước?

Lý do thì nhiều nhưng tựu trung có 2 nguyên nhân chính:

1. Trước hết, cùng với sự sụp đổ của khối CS Đông Âu, Liên Bang Xô Viết và sự cải tổ kinh tế lẫn xã hội tại Trung Công và các quốc gia CS khác, thì chủ nghĩa Mác Lê trên thực tế đã cáo chung. Có thể nói một cách khách quan rằng, không những chủ nghĩa này đã bị hủy diệt tận gốc rẽ, mà chỉ có những người điên mới còn thực sự theo đuổi nó mà thôi. Không một đảng viên nào của các đảng CSTQ, CSVN hoặc CS Cuba còn tin tưởng vào chủ thuyết Mác Lê cả. Chính vì thế, Cộng Nô như một mẫu người cũng không còn hiện hữu trên thực tế.

2. Tuy nhiên, một mẫu người khác lại xuất hiện thay thế và được nhân dân gọi là bè lũ “Hán Nô”.

Hán Nô dĩ nhiên có nghĩa là làm nô lệ cho dòng dõi Hán Tộc hoặc người Tàu.

Tại sao như thế?

Lý do là vì toàn dân nhận thấy đảng CSVN đã dâng hiến một phần Thác Bản Giốc, toàn bộ Ải Nam Quan, một phần Trường Sa, hằng chục ngàn cây số vuông lãnh hải và gần đây nhất là dự luật Đặc Khu Kinh Tế dâng hiến các đảo Vân Đồn miền Bắc, Bắc Vân Phong miền trung và Phú Quốc miền Nam cho Trung Cộng hầu người Tàu có thể định cư vĩnh viễn tại nước ta. Họ có thể sinh con, đẻ cái và củng cố cho chiến dịch độc chiếm toàn bộ Biển Đông. Họ cũng có thể phát huy con đường tơ lụa và hoàn tất Giấc Mơ Trung Quốc Vĩ Đại của Tập Cận Bình.

Gần đây nhất là đảng CSVN đã hợp thức hóa trên nguyên tắc sự luân lưu của đồng Nhân Dân Tệ trên lãnh thổ Việt Nam.

Câu hỏi chúng ta phải đặt ra là: nguyên nhân nào sản sinh ra các quái thai dân tộc Cộng Nô và Hán Nô như thế?

Khi đi ngược dòng lịch sử và suy xét cẩn thận thì nguyên nhân khách quan nhất phát xuất từ chính bản thân của người sáng lập đảng CSVN và cũng là lãnh tụ “kính yêu muôn đời” của đảng là ông Hồ Chí Minh.

Ông Hồ xuất thân từ một gia đình Nho Giáo nhưng Tây học.

Do đó, mặc dù guồng máy đảng thổi phồng gấp trăm lần, ông chỉ thông thạo 3 ngôn ngữ chính là tiếng Việt, chữ Nho và Tiếng Pháp. Hậu quả là ông chịu ảnh hưởng của 3 nền văn hóa: Văn hóa Dân Tộc Việt, Văn hóa Trung Hoa qua chữ Hán và Văn Hóa Tây Phương qua tiếng Pháp. Văn Hóa Tây Phương bao gồm Ý Thức Hệ Mác Lê.

Khi phân tích bản chất ông Hồ chúng ta nhân thấy các nét đặc thù sau đây:

Trước hết ông không có tư duy sáng tạo nhưng có tài bắt chước nổi bật. Ông lấy tư tưởng người khác làm tư tưởng của mình như vài dòng chữ của Tổng Thống thứ 3 của Hoa Kỳ Thomas Jefferson trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ, ý niệm trồng người của Quản Trọng trong Đông Chu Liệt Quốc và nhiều khái niệm của Mao Trạch Đông áp dụng cho Việt Nam.

Tiếp theo đó, trong 3 nền văn hóa cấu tạo nên con người của ông thì ông khinh thường nền văn hóa Việt Nam, nhưng lại ngưỡng mộ chân thành văn hóa Trung Hoa và Ý Thức Hệ Mác Lê. Ông đã từng công khai tuyên bố rằng ông không có tư tưởng gì cả vì đã có Karl Marx, Lê Nin, Stalin và Mao Trạch Đông tư duy dùm cho ông rồi. Ông cũng xác định rằng ông mãi mãi là học trò chăm chỉ của Stalin và Mao Trạch Đông mà thôi.

Tuy cùng thế hệ, nhưng tương quan giữa Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông là một tương quan thầy trò theo đó Hồ Chí Minh là học trò ngoan và Mao Trạch Đông là thầy giáo vĩ đại.

Từ đó sinh ra tương quan lúc đầu là thầy trò và sau đó là chủ tớ giữa đảng CSTQ và đảng CSVN.

Hâu quả cho dân tộc Việt Nam là gì?

Hậu quả tức thời khi Ông Hồ còn sinh tiền là Công Hàm Bán Nước Phạm Văn Đồng, nhường Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng. Nếu không có Hồ Chí Minh chỉ đạo, làm sao phạm Văn Đồng dám ký công hàm này?

Hậu quả hiện tiền và lâu dài là từng bước đảng CSVN sát nhập tổ quốc Việt Nam vào một đại Trung Quốc mà biên cương và lãnh thổ sẽ phình ra bao gồm toàn bộ Biển Đông trong đó có Việt Nam.

Nếu chúng ta không hành động gì cả thì sẽ nhanh chóng thôi, giấc mơ bán nước điên khùng cho TQ của Thi Sĩ Việt Cộng Tố Hữu sẽ thành sự thật:

“Bên ni biên giới là mình
Bên kia biên giới cũng tình quê hương…”

Đã đến lúc toàn dân Việt phải vùng lên, thay đổi chế độ độc tài Hán Nô này bằng một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên chân chính. Một trong những hành động ngoại giao đầu tiên của một chính quyền dân chủ thực sự, của dân, do dân và vì dân là khởi kiện Trung Cộng với Tòa Trọng Tài Thường Trực tại The Hague, Hòa Lan hầu xác định chủ quyền của mình tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Dĩ nhiên đây chỉ là phát pháo đầu tiên đánh dấu sự thức tỉnh toàn diện của dân tộc Việt, trong tiến trình phục hưng đất nước, sau đêm dài tăm tối của độc tài cộng sản phi nhân.

Tác giả: Đào Tăng Dực

 

Việt Nam Trung Quốc Cộng sản