2 9 2018

SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CỘNG SẢN VIỆT NAM DÂNG LÃNH THỔ, LÃNH HẢI CHO TRUNG QUỐC

Tuy nhiên, đến khi những người cộng sản nắm được quyền lực, thì những lời căn cặn của ông cha về trách nhiệm bảo vệ bờ cõi lại phải dần nhường chỗ cho “tình đồng chí” của hai đảng cộng sản Việt - Trung, và lãnh đạo Trung Quốc đã có thể từ từ gặm nhấm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam.

Trong suốt lịch sử các nền quân chủ Việt Nam, bậc tiền nhân đã không tiếc xương máu bảo vệ giang sơn bờ cõi. Vua Trần Nhân Tông đã dặn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”, còn vua Lê Thánh Tông đã nói: “Ta phải giữ gìn cho cẩn thận đừng để cho ai lấy mất một phân núi, một tấc sông của Vua Thái Tổ để lại”. Tuy nhiên, đến khi những người cộng sản nắm được quyền lực, thì những lời căn cặn của ông cha về trách nhiệm bảo vệ bờ cõi lại phải dần nhường chỗ cho “tình đồng chí” của hai đảng cộng sản Việt - Trung, và lãnh đạo Trung Quốc đã có thể từ từ gặm nhấm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam.

1. Thời kỳ 1945 – 1979:

Từ trước khi chế độ cộng sản Bắc Việt được thành lập, những đảng viên cộng sản Việt Nam đầu tiên đã giữ mối quan hệ rất mật thiết với cộng sản Trung Quốc (hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã được tổ chức ở Hương Cảng vào đầu năm 1930). Sau khi nhà nước cộng sản Bắc Việt ra đời ngày 2/9/1945, Trung Quốc bắt đầu quá trình viện trợ quân sự cho miền Bắc Việt Nam. Đây là lúc lãnh đạo cộng sản Bắc Kinh chuẩn bị nền tảng ngoại giao để có thể can thiệp và thao túng chính trường Việt Nam trong các giai đoạn sau. Phía Bắc Việt cũng đã chủ động đề nghị Trung Quốc viện trợ vũ khí, tiền của và cố vấn quân sự trong cuộc chiến với thực dân Pháp (1).

Giai đoạn đầu năm 1955 – đầu năm 1979 là thời kỳ Trung Quốc ráo riết viện trợ cho chế độ cộng sản Bắc Việt trong cuộc chiến chống lại chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Từ khi bắt đầu đến lúc kết thúc cuộc chiến huynh đệ tương tàn, Trung Quốc đã viện trợ hàng chục vạn tấn hàng quân sự cho phía Bắc Việt, trong đó có hàng triệu khẩu súng bộ binh và hàng ngàn khẩu pháo (2). Như vậy, Trung Quốc đã thấy được cơ hội xâm chiếm Việt Nam, thực hiện dã tâm đã được duy trì qua hàng chục đời vua Trung Quốc, thông qua việc hỗ trợ cho phía Bắc Việt giành chiến thắng trong cuộc chiến ủy nhiệm.

Bằng chứng rõ ràng nhất là sự kiện Trung Quốc thuận lợi chiếm được quần đảo Hoàng Sa trong cuộc hải chiến ngày 19/1/1974. Lúc đó, lực lượng cộng sản Bắc Việt đã tích cực hỗ trợ Trung Quốc trong hai việc: Thứ nhất là liên tục gây áp lực quân sự, không ngừng quấy phá (thậm chí tấn công cả thường dân) khiến chính quyền Việt Nam Cộng Hòa không thể tập trung phòng thủ Biển Đông; thứ hai là giúp đỡ về mặt ngoại giao bằng cách im lặng, nghĩa là ngầm ủng hộ việc quân đội Trung cộng cưỡng chiếm Hoàng Sa. Ông Hoàng Đức Nhã, em họ cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu kể lại rằng ít nhất một tiểu đoàn thủy quân lục chiến của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã được đưa vào đất liền do áp lực quân sự từ phía Bắc Việt, nên lực lượng phòng thủ Hoàng Sa trở nên suy yếu.

Lúc đó, phía Việt Nam Cộng Hòa đã đề nghị Bắc Việt lên tiếng phản đối hành động xâm lược Trung Quốc, vì họ nghĩ rằng những người cộng sản có mù quáng đến đâu thì cũng không thể làm ngơ khi chủ quyền bị xâm phạm. Tuy nhiên, họ đã nhầm, khi tướng Lê Quang Hòa gọi điện về miền Bắc xin ý kiến chỉ đạo thì đích thân ông Lê Đức Thọ đã nói: “Lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Trung quốc, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi”. Những người cộng sản đã thể hiện rõ lập trường xem “tình đồng chí” cao hơn quyền lợi dân tộc ngay từ lúc ấy, khiến Trung Quốc càng thuận lợi chiếm được Hoàng Sa. Ngày nay thì mọi người đều thấy rõ Trung cộng không những trả lại Hoàng Sa mà còn xây dựng ở đây hệ thống đảo nhân tạo với rất nhiều vũ khí.

2. Thời kỳ 1979 – 1989:

Đây là giai đoạn tạm thời “đóng băng” trong quan hệ của hai đảng cộng sản Việt – Trung. Ngày 17/2/1979, Trung Quốc huy động khoảng 30 vạn lính đồng loạt tấn công các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam. Trên danh nghĩa, cuộc chiến kết thúc sau gần một tháng, nhưng thực tế là giao tranh ở biên giới vẫn tiếp diễn trong gần 10 năm sau đó. Một số dư luận viên sau này đã dựa vào giai đoạn xung đột này để tuyên truyền rằng đảng cộng sản Việt Nam vẫn có lúc chống Trung Quốc. Tuy nhiên, sự kiện hải chiến Trường Sa tháng 3/1988 lại cho thấy vấn đề không đơn giản như vậy.

Điểm khác biệt căn bản giữa hải chiến Hoàng Sa 1974 và hải chiến Trường Sa 1988 là trong khi phía Việt Nam Cộng Hòa cố gắng chống trả (hộ tống hạm Nhật Tảo chiến đấu tới cùng giữa vòng vây tàu Trung Quốc) thì cuộc chiến Trường Sa gần như là cuộc tắm máu, bởi vì những người lính được lệnh không nổ súng. Cho nên mới có chuyện trung úy Trần Văn Phương ôm cờ chịu bị lính Trung Quốc bắn, rồi đến lượt 64 binh sĩ kết thành “vòng tròn bất tử” rồi ngã xuống trước những loạt đạn từ lính Trung Quốc mà không thể chống trả. Một số người sống sót trong cuộc thảm sát Gạc Ma đã xác nhận sự thật này với đài RFA (3). Tướng Lê Mã Lương thì chua chát kể: “Có đồng chí lãnh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như đánh chiếm cái đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa. Không được nổ súng!”  

Như vậy, trong giai đoạn 1979 – 1989, lãnh đạo cộng sản Bắc Việt không hoàn toàn đối đầu với Trung Quốc mà vẫn giữ một thái độ cúi đầu ngấm ngầm. Họ vẫn để binh lính phòng thủ biên giới phía Bắc vì đó là phòng tuyến bảo vệ trung tâm quyền lực của họ, mất nó thì họ mất tất cả. Còn với chuyện xảy ra ngoài Trường Sa, họ chọn “giải pháp” không làm mất lòng phía Trung Quốc.

3. Thời kỳ 1990 đến nay:

Đây không những là giai đoạn “tan băng” trong quan hệ Việt – Trung mà thực tế còn là thời kỳ lãnh đạo cộng sản Việt Nam hết sức thuần phục và tận tình hỗ trợ Trung cộng. Giai đoạn này được mở đầu bởi Hội nghị Thành Đô tháng 9/1990, sự kiện đã cứu chế độ cộng sản Việt Nam khỏi cảnh hiểm nghèo. Trước đó, làn sóng sụp đổ domino của các nhà nước cộng sản trên thế giới đã đẩy giới lãnh đạo Việt Nam vào tình cảnh gần như khủng hoảng. Trong cơn nguy biến đó, những người cộng sản Việt Nam hiểu rằng giải pháp giữ chế độ duy nhất là bắt tay với Trung Quốc. Lý do này đã khiến lãnh đạo Việt Nam tham dự hội nghị Thành Đô với tâm thế hầu như thuần phục. Cho nên phía Việt Nam đã đồng ý loại Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch (4) (một người có lập trường chống Trung Quốc khá triệt để) khỏi đoàn lãnh đạo sang Trung Quốc, theo đúng yêu cầu của Bắc Kinh.

Sau đó, Trung Quốc tái lập quan hệ ngoại giao và viện trợ kinh tế cho Việt Nam. Còn cuộc chiến biên giới phía Bắc thì trở nên như chưa từng tồn tại, bộ máy tuyên truyền của chế độ hầu như không đả động gì đến sự kiện này nữa (khiến không ít cựu binh rất bất bình và tỏ thái độ đứng về những người đấu tranh dân chủ sau này). Lãnh đạo cộng sản Việt Nam thì ngày càng thuần phục Trung Quốc hơn. Cuối năm 2007, Thủ tướng Chính phủ khởi động dự án bauxite Tây Nguyên, bất chấp những phản ứng dữ dội từ ngay trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam (tướng Giáp ba lần viết thư đề nghị dừng dự án nhưng cũng không làm được gì), bởi rủi ro quá lớn về an ninh khi người Trung Quốc vào được Tây Nguyên.

Dự án bauxite Tây Nguyên chỉ là trường hợp tiêu biểu trong vô số trường hợp mà Trung Quốc đưa được người vào lãnh thổ Việt Nam, dưới danh nghĩa “công nhân” làm việc ở các “dự án”. Một trường hợp gây bất bình khác là dự án nhà máy thép Formosa ở cảng Vũng Áng, Hà Tĩnh (“vỏ” Đài Loan nhưng “ruột” thì Trung Quốc). Sau khi xả độc hủy diệt ngư trường bốn tỉnh miền Trung, Formosa hầu như không phải chịu trách nhiệm gì và khu vực xung quanh nhà máy này đã gần như “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Các dự án mờ ám như khu nghỉ dưỡng Hồ Tràm Strip, khu nghỉ dưỡng Bãi Chuối cũng cho thấy dấu tay Trung Quốc can thiệp vào các vị trí rất nhạy cảm trên bản đồ Việt Nam.

Gần đây, các lãnh đạo cộng sản Việt Nam dự định thông qua dự luật đặc khu vào giữa tháng 6/2018, nhưng phải hoãn vì cuộc tổng biểu tình trên cả nước nhằm phản đối dự luật đặc khu vào ngày 10/6/2018. Dự luật này dĩ nhiên cũng là sự tiếp tay, thông đồng với Trung cộng, vì các vị trí được chọn làm đặc khu (quần đảo Vân Đồn, vịnh Vân Phong và đảo Phú Quốc) đều vừa vặn kết nối với chiến lược “Vành đai và con đường” và “Một trục hai cánh” của Trung Quốc.

Nếu được thông qua thì dự luật đặc khu sẽ cho phép các “nhà đầu tư” Trung Quốc thuê đất ở các đặc khu tới 99 năm, về bản chất thì không khác gì hành động nhường lãnh thổ. Cho nên, không chỉ người dân mà ngay cả người trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam cũng phản đối. Tuy nhiên, các lãnh đạo tối cao của chế độ vẫn chưa từ bỏ dự luật. Một bằng chứng rõ ràng là sân bay quốc tế Vân Đồn đã sắp chính thức hoạt động. Nếu dự luật đặc khu không được thông qua thì dự án trị giá hàng ngàn tỉ này sẽ trở nên vô nghĩa.

Tựu trung, từ khi chế độ cộng sản được thành lập ở Việt Nam, với sự hỗ trợ của Trung cộng, thì từng phần lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam dần dần rơi vào tay Trung Quốc. Tuy quan hệ hai đảng cộng sản Việt – Trung có lúc “cơm không lành, canh không ngọt” nhưng sau năm 1990 đến nay, lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã hầu như thuần phục Trung cộng, và tận tình hỗ trợ lãnh đạo Bắc Kinh trong quá trình thâu tóm dần dần đất nước Việt Nam.

Hình: Dàn lãnh đạo Việt Nam tham gia hội nghị Thành Đô 1990. Hội nghị này đã ngầm mở đầu một giai đoạn Bắc thuộc mới trên lãnh thổ Việt Nam. Nguồn ảnh: Internet

HL

Tài liệu tham khảo:

1) https://phanba.wordpress.com/2017/10/02/trung-quoc-trong-chien-tranh-viet-nam/

2) https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87n_tr%E1%BB%A3_n%C6%B0%E1%BB%9Bc_ngo%C3%A0i_trong_Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam

3) https://www.rfa.org/vietnamese/news/people_stories/who-order-no-fire-at-jonhson-reef-03132018094556.html

4) https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_Th%C3%A0nh_%C4%90%C3%B4

  

Việt Nam Trung Quốc Cộng sản Hội nghị thành đô