1 16

Nhất thể hóa – Bước lùi của lịch sử? Tập quyền hay tản quyền (P2/2)

1. Khi phân tích về thể chế chính trị quốc gia, người ta nói đến các kích thước như độc đảng hay đa đảng, liên bang hay đơn nhất, một viện hay hai viện….dù chúng có các chức năng khác nhau, nhưng có cùng bản chất chung đó là hướng đến thúc đẩy việc tập quyền hay tản quyền.

 

 

Mỗi kích thước ở trên sẽ tạo ra cái gọi là những người chơi phủ quyết. Đó là các tác nhân (cá nhân hay tập thể) có tiếng nói quyết định đối với các vấn đề quốc gia. Một hệ thống được thiết kế càng ít người chơi phủ quyết thì càng tập quyền, và trái lại, một hệ thống được thiết kế càng nhiều người chơi phủ quyết thì càng tản quyền.

– Đối với hệ thống tập quyền, bởi có ít người chơi phủ quyết, nên ưu điểm của nó là có thể đưa ra và thực thi chính sách lớn một cách dễ dàng, nhưng nhược điểm là nguy cơ lạm quyền và thảm họa quy mô lớn khi chính sách sai lầm như chúng ta thấy trong các chế độ độc tài ở Trung Quốc thời Mao Trạch Đông, hay Việt Nam thời Lê Duẩn (vốn có mức độ tập quyền rất cao).

– Đối với hệ thống tản quyền, bởi có nhiều người chơi phủ quyết, nên ưu điểm của nó là kiểm soát quyền lực, nhưng nhược điểm là không thể đưa ra và thực thi các chính sách lớn; song cũng chính nhược điểm này dẫn đến một ưu điểm khác đó là hệ thống này không dẫn đến các thảm họa lớn khi chính sách sai lầm như chúng ta thấy ở các nước dân chủ (vốn có mức tản quyền cao).

2. Bản thân trong hệ thống độc tài, cũng có sự khác biệt về mức độ tập quyền, như giữa Việt Nam và Trung Quốc. Dù hai quốc gia đều theo hệ thống cộng sản, sao chép mô hình của Liên Xô (Việt Nam vừa sao chép của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc), tuy nhiên chế độ của Trung Quốc có mức độ tập quyền cao hơn nhiều so với chế độ của Việt Nam.

– Trong hệ thống của Trung Quốc, Tổng bí thư đồng thời là Chủ tịch nước, là một nhân vật có thực quyền rất lớn, lấn át so với phần còn lại. Trong khi đó, trong hệ thống Việt Nam, quyền lực thực tế được phân chia cho ba hoặc bốn cá nhân: Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng và có thể thêm Chủ tịch quốc hội.

– Điều này dẫn đến hệ quả mà chúng ta thấy: chính quyền Trung Quốc có thể đưa ra và thực thi các chính sách quyết đoán hơn nhiều so với chính quyền Việt Nam, và vì vậy có mức độ thành công hơn về kinh tế. Song chúng ta cũng thấy quy mô sai lầm về chính sách của Trung Quốc cũng lớn hơn Việt Nam rất nhiều; tương tự như vậy về mức độ đàn áp và hà khắc của Trung Quốc so với Việt Nam.

3. Như đã nói ở trên, ưu điểm chính của hệ thống tập quyền là nó cho phép có thể đưa ra và thực thi chính sách lớn một cách dễ dàng, và đây là một tiền đề cho sự thành công lớn, nếu tận dụng được. Để tận dụng ưu điểm này, đòi hỏi phải có một đội ngũ lãnh đạo sáng suất cùng một bộ máy hành chính chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản, để có thể đưa ra các chính sách tốt cũng như thực thi chúng. Trường hợp thành công điển hình ta thấy ở đây như Singapore hay Đài Loan thời Tưởng Giới Thạch (những trường hợp này rất ít). Tuy nhiên, nếu hệ thống tập quyền rơi vào tay một đội ngũ lãnh đạo kém cỏi, độc đoán, tùy tiện, cùng bộ máy hành chính với năng lực quản trị và thực thi kém, thì sẽ dẫn đến thảm họa cho quốc gia. Và đây lại là trường hợp phổ biến xảy ra như tại các nước Cộng sản, Phát xít và nhiều nước độc tài khác.

4. Quay trở về với Việt Nam, câu hỏi đặt ra là khi nhất thể hóa hai chức danh Chủ tịch nước và Tổng bí thư, tức tạo ra một thống tập quyền hơn, liệu Việt Nam có tận dụng được thuận lợi của một hệ thống như vậy hay không. Câu trả lời là không, bởi Việt Nam không có một đội ngũ lãnh đạo sáng suốt, cũng như một bộ máy hành chính có thể đưa ra và thực thi các chính sách tốt (hoàn toàn không thể so sánh với giới lãnh đạo và bộ máy hành chính của Trung Quốc hiện nay; ngay cả khi có một giới lãnh đạo và bộ máy như vậy, Trung Quốc sẽ đối mặt với những rủi ro rất lớn, nếu những chính sách sắp tới của Tập Cần Bình sai lầm, thì sẽ tạo ra thảm họa cho xã hội Trung Quốc; còn về đàn áp sự hà khắc mà người Trung Quốc phải chịu thì là điều hiển nhiên).

– Nhìn vào lịch sử năng lực của đội ngũ lãnh đạo Đảng cộng sản trong quá khứ cũng như hiện nay, có người nào được đào tạo bài bản, có tầm nhìn, năng lực của một nhà lãnh đạo hiện đại hay không.

– Nhìn vào những chính sách kinh tế xã hội mà Đảng Cộng sản thực thi như tập thể hóa nông nghiệp, mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước – quả đấm thép, khai thác bô xít, khoáng sản….?

– Nhìn vào bộ máy hành chính trong việc quản trị và thực thi chính sách, khi mà nó không thể giải quyết được nhiều vấn đề của xã hội Việt Nam như giáo dục, ý tế, môi trường….mà chính nó trở thành vấn đề của xã hội Việt Nam.

– Và về tổng thể, bộ máy nhà nước Việt Nam ngày càng suy giảm năng lực quản trị và sự tự trị, ngày càng bị chi phối bởi các hình thức thân tộc, nhóm lợi ích và trở thành công cụ cướp bóc tài sản của người dân và quốc gia.

Với những người lãnh đạo như vậy, với một bộ máy hành chính như vậy, chúng ta không thể hi vọng rằng, việc tập quyền hơn sẽ mang lại lợi ích cho người dân Việt Nam. Trái lại, những mặt trái của nó sẽ được phóng đại, về sự lạm dụng quyền lực và quy mô của những sai lầm về chính sách.

5. Bởi vì chúng ta không có giới lãnh đạo tốt, bộ máy quản trị tốt, nên cách tốt nhất là tản quyền và giới hạn phạm vi của nhà nước lại, để hạn chế những sai lầm và sự lạm quyền của nó. Và như tình trạng độc tài tại Việt Nam, thì cơ chế tản quyền là sự tồn tại của nhiều phe phái, cạnh tranh với nhau. Cơ chế này tạo ra một sự cân bằng quyền lực không chính thức giữa các phe nhóm, cũng như thúc đẩy các bên phải đối thoại và đồng thuận trong việc ban hành và thực thi chính sách. Một cơ chế như vậy sẽ làm giảm bớt sự tùy tiện của chính sách cũng như sự lạm quyền. Mục đích của tất cả những điều này là giảm bớt ảnh hưởng tai hại của bộ máy nhà nước Việt Nam lên xã hội Việt Nam.

Sự phát triển của xã hội Việt Nam, không nên đến từ kì vọng vào vai trò của nhà nước hiện nay (nhất là kì vọng từ sự tập quyền mang lại), mà đến từ sự tự do của xã hội, của sự sáng tạo của người dân Việt Nam. Thực tế cho thấy, những sự thay đổi của Việt Nam trong vài chục năm qua không phải đến từ thành công gì về chính sách của chính quyền cộng sản Việt Nam (phần lớn là các chính sách sai lầm), mà đến từ chính sự cố gắng của người dân Việt Nam (Người Việt Nam là một trong những dân tộc có năng lực nhất khi so sánh với các dân tộc khác trong khu vực Đông Nam Á). Điều người Việt Nam cần là sự tự do để sử dụng nặng lực của mình, và với hiện trạng chính trị hiện nay thì giải pháp:

1) TẢN QUYỀN THAY VÌ NHẤT THỂ HÓA,

2) NÂNG CAO DÂN TRÍ VÀ DÂN KHÍ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỂ HỌ ĐẤU TRANH MỞ RỘNG QUYỀN TỰ DO CỦA HỌ, QUA ĐÓ THÚC ĐẨY SỰ TIẾN BỘ XÃ HỘI VIỆT NAM.

Những người ủng hộ giải pháp tập trung quyền lực (theo nghĩa tiêu cực), vì tin rằng như vậy chính quyền cộng sản nhanh chóng sụp đổ hơn nên thận trọng vì niềm tin này:

– Chính quyền cộng sản không dễ sụp đổ khi họ nắm chắc công an và quân đội trong tay.

– Với sự tập quyền, cùng với đó là sự bóp nghẹt xã hội, sự sai lầm về chính sách sẽ khiến cho quá trình tiến bộ của xã hội Việt Nam ngưng lại. Một xã hội nghèo nàn, độc đoán không tốt về mọi mặt: 1) như thế chỉ dễ cho những kẻ độc tài cai trị; 2) khi chế độ độc tài sụp đổ, thì sẽ dẫn đến bất ổn chính trị khó lường; 3) nó không giúp tạo ra những chuyển biến tốt về chất trong xã hội như xã hội dân sự, vốn xã hội, lòng tin vốn cần thiết cho ổn định và phát triển.

– Sự chuyển biến của xã hội Việt Nam, xét về cấu trúc xã hội, nhận thức, văn hóa chính trị chưa đủ để tạo ra những chuyển biến chính trị lớn và cần thêm thời gian cho việc đó. Đến khi chuyển biến xã hội đủ lớn, tự động nó sẽ gây áp lực lên hệ thống cho sự thay đổi. Và một xã hội với mức phát triển càng cao, như Đài Loan, Hàn Quốc trước đây, thì khi chuyển biến chính trị xảy ra, thì tỉ lệ thành công sẽ cao hơn so với những chuyển biến chính trị xảy ra trong xã hội nghèo đói, như Campuchia. Điều chúng ta cần là tiếp tục kiến trì đưa xã hội Việt Nam phát triển đến điểm đó: NƯỚC LÊN THÌ THUYỀN PHẢI LÊN.

NẾU SỰ CHUYỂN BIẾN THEO HƯỚNG NGƯỢC LẠI, MÀ ĐIỀU NÀY ĐANG XẢY RA, THÌ ĐÓ LÀ BẤT HẠNH CHO DÂN TỘC VIỆT NAM – BƯỚC LÙI LỊCH SỬ.

Tác giả: Minh Anh

Việt Nam Nguyễn Phú Trọng Trung Quốc Cộng sản