2 10 tvb

Miền Nam và những vết sẹo do Đỗ Mười gây ra

Vậy là Đỗ Mười đã chết, tên tội đồ đã gây bao tang tóc cho Sài Gòn và các tỉnh miền Nam đã chết như thế. Trước khi chết, hắn đã bị hành hạ bởi bệnh phổi và thận trong sáu tháng. Những người vào thăm kể rằng hắn không nói được vì phải mở khí quản. Kết thúc như vậy thực sự vẫn còn nhẹ nhàng cho kẻ đã gây bao tội ác với hàng trăm ngàn gia đình miền Nam. Tuy nhiên, nghĩ đến những kẻ sau khi chết vẫn bị trừng phạt, như Hitler, như Lenin, như Stalin và rất nhiều tên độc tài trong lịch sử, tượng đài của họ bị kéo đổ, tên tuổi của họ bị bôi tro trát trấu, chúng ta có quyền tin rằng những đau đớn trên chỉ là khởi đầu trong hình phạt mà Đỗ Mười phải chịu.  

Chiến dịch X-1, trò trả thù hèn hạ của kẻ tiểu nhân

Nhân lúc chính quyền Việt Nam Cộng Hòa suy yếu, lực lượng cộng sản Bắc Việt xua quân xâm lược miền Nam. Những tưởng Tháng Tư Đen đã là cả một bi kịch khi nhà nước tự do, khai phóng, nhân văn ở bờ nam sông Bến Hải bị bức tử, nhưng hóa ra đó chỉ là khởi đầu của những thảm kịch còn tàn khốc hơn. Chiếm được miền Nam nhưng Đỗ Mười và các đồng chí của hắn vẫn không hả dạ. Chúng nghĩ ra trò bệnh hoạn để trả thù những người đã chấp nhận buông súng đầu hàng, và ngụy trang thủ đoạn đó với tên gọi “chương trình học tập cải tạo”, còn gọi là chiến dịch X-1.  

Khi những người cộng sản tiến vào miền Nam, họ tuyên bố “giải phóng” đồng bào. Hóa ra khái niệm “đồng bào” đó có sự phân chia và cũng chỉ là thủ đoạn tuyên truyền. Những người cộng sản không xem các sĩ quan, nhân viên quân sự, an ninh của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là đồng bào, mà chỉ là những đối tượng để tra tấn và sỉ nhục, giống như cách những tên phát xít Đức nhìn người Do Thái. Chiến dịch X-1 được bắt đầu không lâu sau ngày đen tối 30/4/1975, nhắm vào những người từng trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ quân đội và cảnh sát Việt Nam Cộng Hòa. Đến tận năm 1990 vẫn có người bị giam giữ và tra tấn trong các trại tù cải tạo.

Điều kiện sống trong các trại tù cộng sản thực sự không khác gì các trại tập trung. Điều kinh khủng nhất không phải là cảnh sống hết sức khổ sở, mà là thú vui tra tấn đồng bào của những tên cai tù cộng sản. Có những người phải làm việc đến kiệt sức nhưng bản thân công việc thì chẳng có ý nghĩa gì, như làm nền phơi lúa trong khi chẳng có lúa để phơi. Có người chịu bị tra tấn cả về thể xác lẫn tinh thần, nhưng không thể phản kháng. Điều đau đớn hơn nữa là cảnh chia lìa mà người đi “cải tạo” và vợ, con họ phải chịu đựng. Có những gia đình đón được người chồng, người cha trở về, nhưng người đó lúc đi khỏe mạnh, lực lưỡng thì lúc về thân tàn ma dại. Không ít gia đình thì không bao giờ gặp lại người thân nữa.

Về bản chất, chiến dịch X-1 là trò trả thù hèn hạ đến độ nó nhắm đến cả những đối tượng tuy trên danh nghĩa có liên quan đến quân đội, cảnh sát Việt Nam Cộng Hòa, nhưng thực chất không hề cầm súng. Như trường hợp người thân của một người bạn của chúng tôi, tuy có mối liên hệ với không lực Việt Nam Cộng Hòa nhưng thực chất người đó chỉ lo việc chụp, rửa ảnh, vậy mà vẫn phải “học tập cải tạo”. Chú ấy kể rằng quả thực may mắn nên mới còn sống. Một trường hợp khác chúng tôi biết là một bác sĩ, thậm chí còn không làm trong quân y Việt Nam Cộng Hòa, vẫn phải bị hành hạ trong ba năm địa ngục trần gian của các trại tù cải tạo. Không chỉ thợ ảnh hay bác sĩ, nhiều người làm việc văn phòng, bàn giấy và các công việc chắc chắn không có mùi súng đạn, vẫn không thoát khỏi cơn khát trả thù của những người cộng sản, được dẫn dắt bởi ý tưởng bệnh hoạn của Đỗ Mười.

Chiến dịch X-2, trò “ăn cháo đá bát”

Khoảng ba năm sau khi chiến dịch X-1 được phát động, đến lượt chiến dịch X-2 mở màn cho phong trào cướp bóc có hệ thống trên toàn bộ các tỉnh miền Nam, kéo dài đến tận năm 1990. Đối tượng của chiến dịch X-2 là tất cả các thành phần kinh tế tư nhân, đến cả nhà sách và tiệm thuốc cũng không thoát. Điều bi hài là trong những đối tượng của chiến dịch có những người làm ăn, buôn bán nhỏ từng hỗ trợ, nuôi giấu cộng sản. Vậy mà chỉ qua một đêm, những người dân quá thật thà, chất phác trở thành tội phạm, với tội danh “phá hoại” nền kinh tế kiểu cộng sản. Họ bị kết tội bởi chính những kẻ họ từng giúp đỡ và tài sản, nhà cửa của họ bỉ hủy hoại chỉ trong một đêm.

Đỗ Mười và các đồng chí của hắn bày trò “học tập cải tạo” nhằm trả thù sĩ quan, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đành, đến cả những người dân không biết mùi súng đạn, không biết làm hại ai vẫn không thoát khỏi bàn tay cướp bóc tham lam và tàn bạo. Đến đây, Đỗ Mười sử dụng một thủ đoạn quen thuộc xuất hiện ở hầu hết các chế độ cộng sản trên thế giới chứ không chỉ ở Việt Nam: Làm những trò lưu manh, phi nhân tính nhưng tuyên bố “chính nghĩa” và huy động một bộ máy tuyên truyền để tô vẽ thứ “chính nghĩa” đó. Bản chất của chiến dịch X-2 là cướp sạch, cướp trắng của đồng bào, nhưng vẫn tuyên bố làm vậy để bảo vệ “kinh tế xã hội chủ nghĩa”, đồng thời mô tả những nạn nhân như tội phạm.

Thủ đoạn này cũng có nét tương đồng với những chiêu trò phát xít Đức từng làm: Vu khống những người Do Thái là nguyên nhân gây nên sự bất ổn xã hội và sự sa sút của nòi giống Đức, rồi trấn lột và tống giam họ. Điểm khác là phát xít Đức không giấu giếm bản chất của những trại tập trung, tuyên bố thẳng thừng về sự thanh trừng người Do Thái. Còn cộng sản dùng trò nửa úp nửa mở, đã cướp của người ta nhưng vẫn làm như đó không phải việc ác. Một điểm khác biệt nữa là những người cộng sản đã hủy hoại nền kinh tế của chính những người từng giúp đỡ họ, nuôi giấu và che chở họ, để họ duy trì được cái thứ gọi là “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam”. Đó là hành vi tráo trở, ăn cháo đá bát mà ngay những kẻ ác như phát xít Đức cũng chưa làm.

Chiến dịch X-3, bóc lột đến tận cùng

Chiến dịch X-3 được phát động song song với X-2, tập trung vào khu vực Sài Gòn. Gắn liền với chiến dịch này là giai thoại về sự hung hăng và thô bỉ của Đỗ Mười trong buổi chiều 21/3/1978, khi hắn đọc Quyết định của Thủ tướng và Chỉ thị 100 – CP để triển khai kế hoạch “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh” ở Thủ Đức. Lúc ấy, sau khi giả dạng trí thức được ít phút, Đỗ Mười nhanh chóng bộc lộ bản chất hung hăng, rồi tuyên bố: “Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta”.

Hắn đã dùng những lời lẽ như thế, hắn gọi người miền Nam là “rắn”, thì rõ ràng hắn xem dân miền Nam không phải đồng bào nữa. Không chỉ Đỗ Mười mà nhiều tay lãnh đạo cộng sản đối xử với dân còn ác hơn với kẻ thù. Sau đó thì Thành ủy Sài Gòn làm đúng như lời của tay côn đồ được phong lãnh đạo, họ tuyên bố đóng cửa tất cả các cửa hàng kinh doanh tư nhân, rồi lột sạch tài sản của những người này, đồng thời đẩy hàng trăm ngàn người đến các “vùng kinh tế mới”. Ngay trong các triều đại quân chủ lúc thịnh lúc suy cũng hiếm thấy một chiến dịch cướp của dân theo cách tàn bạo, rộng khắp và triệt để như vậy.

Đến đây, cần phải lưu ý rằng Đỗ Mười và những đồng chí của hắn có thể thuận lợi hủy hoại miền Nam, một phần nhờ chính những người miền Nam hoặc quá thật thà, dễ bị lừa, hoặc quá thủ đoạn mà toan tính cho riêng họ. Những người vô ý hoặc cố ý phản bội ấy đã chỉ đường, giúp đỡ cho cộng sản vào miền Nam, đến khi cộng sản muốn cướp của dân thì còn hỗ trợ cộng sản. Bộ máy truyền thông cộng sản năm 1978 đã kể lại chuyện một cô Lý Mỹ, vì tin lời cộng sản mà giúp họ cướp sạch tài sản của gia đình cô. Thực tế thì không chỉ có một mà phải có hàng ngàn Lý Mỹ như vậy. Cho nên, miền Nam vốn rất giàu có, thịnh vượng cũng dần trở nên buồn da diết, vì bị đâm quá mạnh, bị đâm nhiều nhát cả từ phía trước và phía sau.

Về khái niệm “vùng kinh tế mới”, phải nói thẳng đó chỉ là các khu đất hoang sơ, rừng thiêng nước độc, thiếu từ điện, đường đến trường, trạm. Cộng sản sau khi cướp sạch của dân thì đày dân về những vùng đất như vậy. Thêm một điều bi hài nữa là ngay cả chương trình “kinh tế mới” của cộng sản cũng chẳng ra ngô ra khoai gì cả, càng làm càng thất bại và đến năm 1990 thì nền kinh tế cộng sản suy thoái, đám lãnh đạo phải vội vã chạy sang Tứ Xuyên, dự Hội nghị Thành Đô rồi bán từng phần chủ quyền cho Trung Quốc. Như vậy, cộng sản cướp sạch của miền Nam nhưng chính chúng cũng không biết làm ăn cho nên hồn, cướp rồi tiêu hoang phí chính những thứ chúng cướp được. Việt Nam bây giờ nợ chồng chất, phụ thuộc Trung Quốc quá nhiều đều vì cách làm kinh tế kiểu cộng sản.

Miền Nam và những vết sẹo chưa lành

Một hậu quả bi tham của các chiến dịch X-1, X-2, X-3 là hàng triệu người miền Nam phải di tản, bởi cộng sản không những cướp trắng của gia đình họ mà còn lăng nhục, vu khống họ. Có những thuyền nhân bỏ xác giữa biển khơi, không phải ai cũng đến được bến bờ của tự do ở châu Úc, châu Âu, châu Mỹ… nhưng họ thà đối mặt với rủi ro giữa biển còn hơn ở lại đất nước bị chế độ cộng sản tàn phá, một đất nước đầy tài nguyên nhưng sa sút dần, không ngóc đầu lên được, vì đi tôn những kẻ thất học như Đỗ Mười làm lãnh đạo.

Nhiều gia đình bị ly tán bởi các chiến dịch “học tập cải tạo” và “đánh tư sản”, đến nay vẫn chưa thể đoàn tụ. Cái nghèo mà những người cộng sản gây ra cho bao gia đình, đến nay vẫn chưa được bù đắp, thậm chí số người nghèo vì cộng sản trên đất nước này chỉ càng ngày càng tăng (số người giàu cũng tăng nhưng do cướp của dân). Liệu một tay hoạn lợn như Đỗ Mười có hiểu được rằng những lời sắt máu và phi nhân tính của hắn ngày nào đã để những hậu quả hết sức thảm thương, vẫn còn tiếp diễn đến ngày nay và không biết bao giờ mới lành lại?

Ngày nay, những lãnh đạo cộng sản vẫn chưa tỉnh mà tiếp tục tuyên truyền về sự “phát triển” kinh tế. Thực chất, chế độ cộng sản Việt Nam còn duy trì được đến ngày nay là do lãnh đạo bán hết mọi thứ tài nguyên có thể đào lên được để bán, thậm chí chấp nhận bán với giá rẻ mạt và chấp nhận phụ thuộc vào Trung Quốc. Sự phụ thuộc ấy được hình thành bởi vai trò không nhỏ của những tên lưu manh chính trị như Đỗ Mười.

 

Huyền Dũng

2/10/2018

Sài Gòn Cộng sản Việt Nam